Số liệu phải đi cùng giai đoạn
SGK nêu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 1°C trong giai đoạn 1901–2020 và mức tăng khoảng 0,12°C mỗi thập kỉ trong giai đoạn 1951–2020. Hai nhận xét dùng hai khoảng thời gian khác nhau; không đổi chúng thành số đo của riêng một năm hiện tại.
Với mực nước biển, cần phân biệt độ cao so với một mốc và tốc độ tăng. Hình 2 của SGK thể hiện mực nước biển trung bình toàn cầu so với năm 1950, còn mm/năm là đơn vị tốc độ.
| Giai đoạn | Tốc độ tăng trung bình (mm/năm) |
|---|---:|
| 1951–2020 | 2,2 |
| 1993–2020 | 3,3 |
Nguồn: SGK Chuyên đề học tập Địa lí 10 KNTT, tr.6. Đây là các giá trị theo giai đoạn trong sách, không phải tốc độ cập nhật cho năm hiện tại.
Bài luyện
Giá trị 3,3 mm/năm ở bảng biểu thị điều gì?
Đã nhầm tốc độ với độ cao tuyệt đối.
Giá trị trung bình toàn cầu không mô tả từng trạm, từng năm.
Bảng kết thúc ở năm 2020, không cho số năm 2026.
Đúng. Cần giữ cả đại lượng, phạm vi và giai đoạn.
Lời giải
Đơn vị mm/năm cho tốc độ. Số 3,3 gắn với trung bình toàn cầu trong giai đoạn 1993–2020; không tự chuyển sang một trạm hoặc năm khác.
So sánh hai tốc độ có giới hạn
Theo hai giá trị trong bảng, 3,3 − 2,2 = 1,1 mm/năm. Nếu tính tỉ số thì 3,3/2,2 = 1,5 lần. Đây là so sánh hai tốc độ trung bình của hai giai đoạn chồng lấn, không phải hai giai đoạn độc lập nối tiếp nhau.
Không lấy 3,3 mm/năm làm mức tăng chính xác cho từng năm rồi cộng tùy ý để dự báo. Cũng không hiểu 1,1 mm/năm là mức nước biển đã dâng thêm tổng cộng. Khi đọc đường biểu diễn, cần nhìn cả dao động và đường xu thế, không chỉ hai điểm gần nhau.
Bài luyện
Hiệu giữa hai tốc độ trung bình trong bảng là bao nhiêu?
Đây là tổng hai tốc độ, không phải hiệu.
1,5 là tỉ số không có đơn vị, không phải hiệu.
Đúng. Lấy 3,3 − 2,2 và giữ đơn vị tốc độ.
Phép trừ hai tốc độ vẫn có đơn vị mm/năm.
Lời giải
3,3 − 2,2 = 1,1 mm/năm. Nếu chia được 1,5 lần; đó là phép tính khác và không có đơn vị mm/năm.
Bài luyện
Điểm nào cần lưu ý khi so sánh hai giai đoạn ở bảng?
Phạm vi bảng là toàn cầu, không phải từng địa phương.
Đúng. Cần đọc mốc trước khi diễn giải sự khác nhau.
1951–2020 dài hơn 1993–2020.
Cả hai đều kết thúc năm 2020.
Lời giải
Không coi hai giai đoạn chồng lấn là hai chặng nối tiếp độc lập. So sánh có thể thực hiện, nhưng phải giữ đúng mốc và phạm vi trung bình toàn cầu.
Kịch bản là kết quả có điều kiện
Hình 7 trong SGK trình bày kịch bản thay đổi nhiệt độ bề mặt Trái Đất giai đoạn 2081–2100 so với giai đoạn 1986–2005 theo hai mức phát thải. Mốc so sánh là một giai đoạn, không phải nhiệt độ bằng 0°C.
Khi đọc cần xác định: biến được thể hiện, giai đoạn tương lai, giai đoạn tham chiếu, mức phát thải và chú giải màu. Hai mức phát thải dẫn tới những kết quả khác nhau; kịch bản giúp xem khả năng trong những điều kiện giả định, không phải hồ sơ quan trắc tương lai hay khẳng định chắc chắn mọi nơi sẽ có đúng một giá trị.
Thực hành: mở hình 1, hình 2 và hình 7 trong sách; ghi tên đại lượng, đơn vị, mốc và một nhận xét có giới hạn cho từng hình. Với lược đồ kịch bản, so sánh khái quát hai mức phát thải theo cùng chú giải, không tự thay địa giới hoặc gán màu thành số chính xác.
Bài luyện
Một màu trên lược đồ kịch bản hình 7 thể hiện mức tăng 3°C. Cách đọc nào đúng về đại lượng này?
Đúng. Đây là mức thay đổi có điều kiện và có mốc.
Đã nhầm chênh lệch với nhiệt độ tuyệt đối.
Đó là kịch bản, không phải quan trắc tương lai.
°C là đơn vị nhiệt độ, không phải lượng phát thải.
Lời giải
Cần đọc đủ tiêu đề và chú giải. Mức tăng 3°C là chênh lệch nhiệt độ so với mốc tham chiếu theo một kịch bản; không phải nhiệt độ tuyệt đối hoặc quan trắc đã có.
Bài luyện
Sản phẩm đọc hình nào đầy đủ hơn?
Thiếu đại lượng nên không biết số đang nói điều gì.
Không được thay mốc khi chưa có dữ liệu mới.
Hình thức trình bày không quyết định bản chất dữ liệu.
Đúng. Các thành phần này làm nhận xét kiểm chứng được.
Lời giải
Nhận xét phải giữ bối cảnh dữ liệu. Quan trắc nói về những gì đã đo; kịch bản nói về kết quả theo điều kiện giả định trong tương lai.
Đang học