Tăng một lượng cố định hay một tỉ lệ cố định?
Thêm cùng d đơn vị mỗi bước thường dẫn đến cấp số cộng. Nhân cùng q, hoặc tăng cùng một tỉ lệ so với bước ngay trước, thường dẫn đến cấp số nhân.
Đặt tên rõ: uₙ là lượng ở bước thứ n hay lượng sau n bước? Nếu bước đầu có u₁ thì đến bước n có n−1 lần thay đổi. Nếu lượng ban đầu là u₀ thì sau n bước đã có n lần thay đổi.
Cuối cùng xem câu hỏi cần riêng bước cuối hay tổng các bước. Tổng số ghế nhiều hàng khác số ghế một hàng; tổng các khoản gửi khác số dư có lãi tại một thời điểm.
Hàng thứ mười và tổng mười hàng
Khán phòng có hàng đầu 18 ghế, mỗi hàng sau thêm 2 ghế. Gọi uₙ là số ghế hàng thứ n, ta có u₁=18,d=2.
Hàng thứ 10 có u₁₀=18+9·2=36 ghế. Tổng 10 hàng là S₁₀=10(18+36)/2=270 ghế.
Hai kết quả cùng dùng một cấp số cộng nhưng trả lời hai câu hỏi khác nhau.
Đếm lần tăng từ mốc 0
Ban đầu N₀=100, mỗi giờ nhân 2. Sau 3 giờ, lượng theo mô hình là
Đây không phải tăng thêm 100 mỗi giờ.
400 mới là sau hai giờ.
Đúng: ba lần nhân 2.
1600 ứng với bốn lần nhân.
Lời giải
N₃=100·2³=800.
Gửi đều cuối kì
Trong bài toán giả định, cuối mỗi tháng gửi 1 triệu đồng, lãi 1% mỗi tháng, lãi nhập gốc; không rút tiền. Tính số dư ngay sau lần gửi thứ ba.
Khoản thứ nhất đã có hai tháng sinh lãi, thành 1·1,01² triệu; khoản thứ hai có một tháng, thành 1·1,01 triệu; khoản thứ ba vừa gửi, chưa sinh lãi. Tổng là 1,01²+1,01+1=3,0301 triệu đồng.
Theo thứ tự từ khoản mới nhất đến cũ nhất, đây là tổng ba số hạng của cấp số nhân u₁=1,q=1,01. Nếu gửi đầu tháng hoặc hỏi ở thời điểm khác, số kì sinh lãi sẽ đổi.
Giữ đúng điều kiện mô hình
Với gửi đều cuối mỗi kì một khoản P và lãi r mỗi kì, số dư ngay sau lần gửi thứ n là tổng P+P(1+r)+⋯+P(1+r)ⁿ⁻¹, theo các giả thiết không đổi đã nêu.
Nếu chỉ gửi một lần ban đầu, ta dùng một số hạng P(1+r)ⁿ, không dùng tổng nhiều khoản gửi. Có thể vẽ một bảng thời điểm ngắn để đếm số kì trước khi áp dụng công thức.
Chọn cấp số cộng
Ngày đầu đọc 10 trang, mỗi ngày sau đọc thêm 2 trang so với ngày trước. Ngày thứ 5 đọc bao nhiêu trang, và cả 5 ngày đọc bao nhiêu?
Từ ngày thứ nhất đến ngày thứ năm chỉ có 4 lần tăng.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Không thể lấy số trang ngày cuối nhân 5 vì các ngày đọc số trang khác nhau.
Ngày thứ năm phải dùng $u_5=u_1+4d=18$.
Lời giải
u₅=10+4·2=18 trang. S₅=5(10+18)/2=70 trang.
Chọn cấp số nhân
Theo mô hình, lượng ban đầu 200, mỗi kì tăng 10% so với kì trước. Sau 2 kì bằng bao nhiêu?
Mô hình tăng theo tỉ lệ trên lượng của kì trước nên dùng lãi kép, không cộng tuyến tính.
Hai kì tạo hai lần nhân với 1,1.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Hệ số tăng phải nhân với lượng ban đầu, không cộng trực tiếp.
Lời giải
200·1,1²=242, cùng đơn vị lượng ban đầu.
Chỉ số bắt đầu từ 1
Sản lượng năm thứ nhất 50 đơn vị, mỗi năm sau tăng 20% so với năm trước. Viết sản lượng năm thứ n.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Năm thứ nhất chưa trải qua lần tăng nào, nên số mũ phải là $n-1$.
Tăng 20% theo lượng năm trước tạo cấp số nhân, không phải tăng tuyến tính.
Hệ số tăng phải nhân với sản lượng ban đầu.
Lời giải
uₙ=50·1,2ⁿ⁻¹ vì năm thứ nhất là u₁, đến năm n có n−1 lần tăng.
Thời điểm ngay sau khoản gửi đầu
Trong mô hình gửi cuối tháng của ví dụ, ngay sau lần gửi đầu tiên đã có 1,01 triệu đồng chưa?
Khoản gửi cuối tháng chỉ sinh lãi từ tháng tiếp theo.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Mô hình dùng hệ số 1,01, và khoản vừa gửi vẫn chưa qua kì sinh lãi.
Khoản 1 triệu được ghi nhận ngay sau khi gửi; chỉ phần lãi chưa phát sinh.
Lời giải
Chưa. Khoản 1 triệu vừa gửi chưa trải qua tháng sinh lãi nào; số dư ngay lúc đó là 1 triệu đồng.
Điều cần nhớ
Chọn cộng hay nhân theo đề, ghi mốc đầu, đếm số lần thay đổi rồi xem hỏi số hạng hay tổng. Một bảng ba thời điểm đầu thường đủ để kiểm cách đánh số.
Đang học