btvn.vn

Việt Nam hóa chiến tranh và Hiệp định Pa-ri

Lưu trên thiết bị này
Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954–1975) · Chọn bài khác

Cùng bắt đầu

Mỹ rút dần quân chiến đấu nhưng vẫn tìm cách duy trì chính quyền Sài Gòn và tiếp tục chiến tranh. Vì vậy, giảm số quân Mỹ không đồng nghĩa chiến tranh đã kết thúc.

Kiến thức cần nhớ

**Việt Nam hóa chiến tranh 1969–1973** sử dụng quân đội Sài Gòn làm lực lượng chủ yếu, với viện trợ, cố vấn và hỏa lực không quân, hải quân của Mỹ. Mỹ còn mở rộng chiến tranh sang Lào, Cam-pu-chia, thường được gọi là Đông Dương hóa chiến tranh. | Mốc | Diễn biến và tác dụng | |---|---| | 6-6-1969 | Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời | | 1970 | phối hợp đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương, đánh bại cuộc hành quân sang Cam-pu-chia | | 1971 | thắng lợi Đường 9 – Nam Lào, bảo vệ hành lang chiến lược | | 1972 | tiến công chiến lược ở miền Nam, làm chuyển biến tương quan lực lượng; miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai | | 18–29-12-1972 | đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương, thường gọi Điện Biên Phủ trên không | | 27-1-1973 | kí Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam | Hiệp định Pa-ri khẳng định các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam; Mỹ và đồng minh phải rút quân, không tiếp tục can thiệp quân sự; các bên ngừng bắn và thực hiện những thỏa thuận về vấn đề miền Nam. Việc rút quân Mỹ làm tương quan lực lượng chuyển biến có lợi cho cách mạng. Kết quả ngoại giao gắn với đấu tranh quân sự, chính trị lâu dài, tiêu biểu các thắng lợi năm 1972. Không giải thích chỉ bằng một phiên họp hay chỉ một trận đánh. **Pa-ri 1973 chưa hoàn thành giải phóng miền Nam.** Chính quyền Sài Gòn vẫn tồn tại và chiến sự tiếp tục; nhiệm vụ đấu tranh buộc thi hành hiệp định, tiến tới giải phóng miền Nam còn đặt ra. Phân biệt nghĩa vụ trong hiệp định với diễn biến thực tế sau kí kết. Miền Bắc giai đoạn 1969–1973 khôi phục kinh tế sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, tăng chi viện rồi tiếp tục chống cuộc đánh phá lần thứ hai năm 1972. Tiến công chiến lược ở miền Nam năm 1972 và thắng lợi chống tập kích đường không cuối năm tạo thêm sức ép quan trọng trong đàm phán. Phối hợp của nhân dân ba nước Đông Dương năm 1970–1971 chống mở rộng chiến tranh cũng cho thấy chiến lược của Mỹ không chỉ tác động riêng chiến trường miền Nam.

Cùng xem một ví dụ

Nếu câu hỏi nói “Mỹ rút quân, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng miền Nam”, mốc phù hợp là Pa-ri 1973. Nếu nói “miền Nam được giải phóng hoàn toàn”, cần chuyển tới thắng lợi mùa Xuân 1975.

Bài luyện

Đặc điểm nào phù hợp với Việt Nam hoá chiến tranh 1969–1973?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Thắng lợi Đường 9–Nam Lào 1971 có tác dụng nào được nêu trong bài?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Quan hệ nào đúng giữa các thắng lợi 1972 và kết quả Pa-ri 1973?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Kết quả nào trực tiếp gắn với Hiệp định Pa-ri 27-1-1973?
Chọn một đáp án

Những điều cần nhớ

1969–1973: Việt Nam hóa chiến tranh. Thắng lợi hai miền và ngoại giao dẫn tới Pa-ri; giải phóng miền Nam vẫn là nhiệm vụ tiếp theo.

Đang học