Từ vấn đề lịch sử
Khi tìm hiểu chủ quyền, ta cần xem những hoạt động thực tế và tư liệu về quản lí của nhà nước. Một tên gọi trên bản đồ, một văn bản hành chính và một đội làm nhiệm vụ trên biển cung cấp những loại thông tin khác nhau.
Tìm hiểu kiến thức
Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền và quản lí liên tục đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong lịch sử. Quá trình ấy được thể hiện qua hoạt động của chính quyền và nhiều nhóm tư liệu: bản đồ, ghi chép sử học–địa lí, văn bản hành chính, hoạt động khảo sát, cắm mốc và bảo vệ.
| Thời kì | Hoạt động và tư liệu tiêu biểu |
|---|---|
| Trước năm 1884 | Đội Hoàng Sa, Bắc Hải; thuỷ quân triều Nguyễn khảo sát, đo đạc, cắm mốc; bản đồ và ghi chép của nhà nước. |
| 1884–1954 | Pháp, với tư cách đại diện đối ngoại cho triều Nguyễn, tiếp tục khảo sát, tổ chức quản lí, dựng bia, hải đăng, trạm khí tượng. |
| 1954–1975 | Các chính quyền ở miền Nam Việt Nam thực hiện hoạt động hành chính, đồn trú, bảo vệ; từ giữa tháng 4-1975 Quân Giải phóng triển khai lực lượng tại Trường Sa. |
| Sau năm 1975 | Nhà nước Việt Nam tiếp tục tổ chức quản lí, thực thi và đấu tranh bảo vệ chủ quyền bằng nhiều biện pháp. |
Các đội Hoàng Sa, Bắc Hải hoạt động từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX. Chính quyền chúa Nguyễn, Tây Sơn tổ chức, giao nhiệm vụ cho các đội trong những thời kì tương ứng. **Phủ biên tạp lục** của Lê Quý Đôn ghi việc đặt đội, tuyển người, cấp giấy sai đi và thời gian thực hiện nhiệm vụ. Đây là dẫn chứng về hoạt động mang tính nhà nước, khác một chuyến đi buôn riêng lẻ.
Dưới triều Nguyễn, triều đình cử thuỷ quân khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ, cắm dấu mốc, cứu nạn và bảo đảm an toàn hàng hải. Thời Minh Mạng, các công việc được tổ chức đều đặn; năm 1835 có việc dựng miếu, trồng cây tại một số đảo Hoàng Sa. **Đại Nam nhất thống toàn đồ** năm 1838 thể hiện Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa; sử liệu, châu bản bổ sung thông tin về chủ thể và hoạt động.
Thời Pháp bảo hộ, khảo sát khoa học và các công trình như hải đăng, trạm khí tượng, bia chủ quyền tiếp tục thể hiện quản lí của Việt Nam qua cơ chế đối ngoại đương thời. Tháng 9-1951, chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo được tuyên bố tại Hội nghị Hoà bình Xan Phran-xi-xcô mà không có phản đối từ các đoàn tham dự theo SGK. Sự kiện này là một dẫn chứng trong quá trình, không phải khởi đầu duy nhất của chủ quyền.
Sau năm 1954, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành văn bản hành chính, cử lực lượng đồn trú và dựng bia. Tháng 1-1974, quân đội Việt Nam Cộng hoà chiến đấu tại Hoàng Sa trước sự tấn công của quân đội Trung Quốc nhưng thất bại. Từ giữa tháng 4-1975, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam triển khai lực lượng thực thi chủ quyền tại Trường Sa.
Sau năm 1975, Nhà nước Việt Nam tiếp tục quản lí, thực thi và đấu tranh bảo vệ chủ quyền; từ năm 1976 là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tháng 3-1988, các chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam chiến đấu bảo vệ chủ quyền tại khu vực Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc Trường Sa trước cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc; nhiều chiến sĩ đã hi sinh.
Năm 1982, các huyện Hoàng Sa và Trường Sa được thành lập. Từ tháng 7-2025, theo nội dung cập nhật của SGK, có đặc khu Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng và đặc khu Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà. Tên loại đơn vị hành chính phải gắn với thời điểm; không gọi một tổ chức năm 1982 bằng tên loại đơn vị mới từ năm 2025.
Cơ sở và quá trình thực thi chủ quyền cần phân biệt với hiện trạng kiểm soát thực tế. Việt Nam khẳng định, bảo vệ chủ quyền với hai quần đảo; không từ đó suy thành đang trực tiếp kiểm soát mọi đảo, đá trong cả hai quần đảo. Khi đọc tư liệu, cần xác định chủ thể, thời kì, hoạt động và phạm vi thông tin, rồi đối chiếu nhiều nguồn.
Phân tích một trường hợp
Tư liệu ghi chính quyền cử một đội ra biển định kì, giao nhiệm vụ và nhận báo cáo cho thấy hoạt động có tổ chức của nhà nước. Nếu chỉ ghi một thương nhân đi qua, ta chưa thể suy ra cùng một nội dung về quản lí nhà nước.
Đối chiếu bản đồ và tư liệu về hoạt động nhà nước
Mở bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ ở SGK tr. 83. Dùng chú thích của sách để nhận ra vị trí ghi Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa. Đây là bản đồ lịch sử, không phải hải đồ hiện đại để đo khoảng cách hoặc tự xác định ranh giới vùng biển.
Đối chiếu với Tư liệu 1 tr. 84: ghi chính quyền tổ chức đội nào, giao nhiệm vụ bằng hình thức gì, có chu kì hoạt động ra sao. Bản đồ cung cấp thông tin biểu đạt lãnh thổ; ghi chép bổ sung thông tin tổ chức và hoạt động. Hai loại tư liệu cần được dùng đúng chức năng.
Đọc thêm Tư liệu 2 ở SGK tr. 86: bản ghi chú nêu Pháp tiến hành hoạt động nhân danh Hoàng đế An Nam và thực thi chủ quyền có từ trước với tư cách nước bảo hộ phụ trách đối ngoại. Dẫn chứng cho thấy sự tiếp nối trong thực thi chủ quyền của Việt Nam; không nên diễn giải thành Pháp là chủ thể đầu tiên tạo lập chủ quyền tại hai quần đảo. Đây là diễn giải tư liệu, không phải trích nguyên văn.
Lập hồ sơ ba dẫn chứng ở các thời kì khác nhau. Mỗi dẫn chứng ghi tên nguồn, niên đại, chủ thể và hoạt động được chứng minh. Sau đó viết đoạn trình bày quá trình xác lập, quản lí, kế thừa chủ quyền; không tự tạo câu trích hoặc lấy một hình ảnh không có xuất xứ thay cho cả quá trình.
Bài luyện
Chi tiết lập đội Hoàng Sa, tuyển người, cấp giấy sai đi và thực hiện nhiệm vụ theo kì trong Phủ biên tạp lục cho phép rút ra nhận xét nào?
Chi tiết chính quyền lập đội, tuyển người và cấp giấy cho thấy đây không phải chuyến đi buôn tự tổ chức.
Lễ tưởng niệm thuộc thông tin khác; tư liệu đang cung cấp cách tổ chức và hoạt động của đội.
Những chi tiết này thuộc hoạt động thời chúa Nguyễn, khác bối cảnh khảo sát thời Pháp.
Đúng. Nhận xét được rút từ chủ thể tổ chức, hình thức giao việc và chu kì hoạt động.
Lời giải
Tư liệu 1 SGK tr. 84 nêu việc chính quyền lập đội, tuyển người, cấp giấy sai đi và quy định kì hoạt động. Các chi tiết phối hợp cho thấy hoạt động mang tính nhà nước, được tổ chức định kì. Đây là một dẫn chứng cụ thể trong quá trình xác lập và thực thi chủ quyền, không phải chuyến đi riêng lẻ.
Bài luyện
Cách sử dụng Đại Nam nhất thống toàn đồ và hai tư liệu viết ở SGK tr. 84, 86 nào phù hợp?
Bản đồ lịch sử không phải hải đồ dùng để xác định các giới hạn pháp lí hiện đại.
Đúng. Bản đồ và văn bản bổ sung các loại thông tin khác nhau về lãnh thổ, chủ thể và hoạt động.
Tư liệu 2 nhấn mạnh thực thi chủ quyền có từ trước với tư cách đại diện đối ngoại, không phải tạo lập lần đầu.
Tên, loại đơn vị phải giữ đúng thời kì của tư liệu; cập nhật hiện nay là chú thích riêng.
Lời giải
Bản đồ năm 1838 thể hiện Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa; Tư liệu 1 cho biết tổ chức, nhiệm vụ của đội; Tư liệu 2 cho biết vai trò đại diện đối ngoại và sự tiếp nối chủ quyền có từ trước. Đối chiếu nguồn theo chức năng và niên đại giúp trình bày quá trình có căn cứ.
Bài luyện
Cách ghép mốc với loại đơn vị hành chính Hoàng Sa, Trường Sa nào đúng theo bài?
Hai loại đơn vị bị đảo thời điểm: huyện được lập năm 1982, đặc khu hoạt động từ tháng 7-2025.
Năm 1838 là niên đại bản đồ được giới thiệu, không phải mốc lập hai huyện; đặc khu gắn với năm 2025.
Đúng. Cần gắn tên loại đơn vị với từng mốc, không gọi ngược tổ chức cũ bằng tên mới.
Từ tháng 7-2025 đã có tổ chức đặc khu, không giữ nguyên mô hình cấp huyện trước đó.
Lời giải
SGK tr. 86 nêu mốc thành lập huyện năm 1982 và cập nhật đặc khu từ tháng 7-2025. Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng, Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà ở mốc cập nhật này. Khi thuật lại lịch sử, giữ đúng loại đơn vị theo thời điểm, không thay mọi tên cũ bằng tên hiện nay.
Bài luyện
Từ thông tin SGK nêu tuyên bố về chủ quyền Việt Nam tại Hội nghị Hoà bình Xan Phran-xi-xcô tháng 9-1951 không gặp phản đối, nhận xét nào có căn cứ?
Đúng. Cần đặt tuyên bố trong quá trình đã có tư liệu và hoạt động thực thi từ các thời kì trước.
SGK nêu quá trình xác lập, thực thi trước năm 1951; không thể lấy tuyên bố này làm khởi đầu duy nhất.
Thông tin nói về tuyên bố tại hội nghị, không phải phán quyết phân định của toà án.
Tư liệu của một sự kiện lịch sử không thay việc kiểm hiện trạng thực địa ngày nay.
Lời giải
Tuyên bố tháng 9-1951 là một dẫn chứng trong quá trình Việt Nam khẳng định, bảo vệ chủ quyền. Nó nối tiếp hoạt động được ghi trong bản đồ, sử liệu và quản lí của các thời kì trước. Chỉ rút kết luận đúng phạm vi thông tin: không đổi tuyên bố thành phán quyết hay suy toàn bộ hiện trạng kiểm soát.
Ghi nhớ
Đọc lịch sử chủ quyền qua chủ thể nhà nước, hoạt động cụ thể và tư liệu. Phân biệt cơ sở lịch sử, lập trường chủ quyền và hiện trạng kiểm soát.
Đang học