btvn.vn

Bảo vệ chủ quyền biển đảo sau năm 1975

Lưu trên thiết bị này
Đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4-1975 · Chọn bài khác

Cùng bắt đầu

Bảo vệ chủ quyền biển đảo gồm nhiều công việc tiếp nối: lưu giữ chứng cứ lịch sử, xây dựng pháp luật, tổ chức quản lí, bảo vệ trên thực địa và đấu tranh ngoại giao.

Kiến thức cần nhớ

Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa trên cơ sở lịch sử và pháp lí. Cần phân biệt **chủ quyền được khẳng định** với **phạm vi kiểm soát thực tế**: Trung Quốc đã chiếm toàn bộ Hoàng Sa bằng vũ lực năm 1974; không thể diễn đạt rằng sau năm 1975 Việt Nam trực tiếp kiểm soát mọi đảo ở cả hai quần đảo. | Mốc | Hoạt động / sự kiện | |---|---| | 1977 | Chính phủ tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa | | 1982 | thành lập các đơn vị hành chính Hoàng Sa, Trường Sa; tiếp tục xác lập cơ sở quản lí của Việt Nam | | 14-3-1988 | chiến đấu bảo vệ biển đảo tại khu vực Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao; nhiều chiến sĩ Hải quân Việt Nam hi sinh | | 1994 | Việt Nam phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) | | 2002 | ASEAN và Trung Quốc kí Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) | | 2012 | Quốc hội thông qua Luật Biển Việt Nam | UNCLOS năm 1982 tạo khuôn khổ pháp lí về các vùng biển và hoạt động trên biển; Công ước có hiệu lực ngày **16-11-1994**. Phân biệt năm thông qua công ước với năm có hiệu lực và mốc một nước phê chuẩn. Việt Nam chủ trương kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời giữ ổn định để phát triển. Hoạt động hành chính, nghiên cứu, lưu trữ tư liệu và ngoại giao có vai trò khác nhau, không thay thế hoàn toàn nhau. Quyền đối với vùng biển phụ thuộc từng vùng theo luật: không gọi toàn bộ vùng đặc quyền kinh tế là lãnh hải, cũng không dùng UNCLOS như một văn bản tự phân xử xong mọi tranh chấp chủ quyền đảo. Có thể ôn các khái niệm vùng biển ở chủ đề Biển Đông và chủ quyền biển đảo. Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán có phạm vi khác nhau; việc chiếm đóng thực tế bằng vũ lực không tự tạo ra chủ quyền hợp pháp. Tháng 3-1988, quân đội Trung Quốc tấn công Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hải quân Việt Nam chiến đấu bảo vệ biển đảo; nhiều cán bộ, chiến sĩ hi sinh. Chính phủ thông tin tới Liên hợp quốc, phản đối hành động xâm phạm và đề nghị thương lượng giải quyết bằng biện pháp hoà bình. Dẫn chứng này thể hiện sự kết hợp giữa bảo vệ trên thực địa và đấu tranh ngoại giao.

Cùng xem một ví dụ

“Việt Nam phê chuẩn UNCLOS năm 1994” là mốc tham gia công ước; “Luật Biển Việt Nam năm 2012” là văn bản pháp luật trong nước. Không hoán đổi tên hay năm của hai văn kiện.

Đọc nguồn và phân loại hoạt động

Lập bảng hai cột: sự kiện/văn kiện và hình thức bảo vệ. Chẳng hạn, tuyên bố 1977, hoạt động hành chính 1982, tham gia UNCLOS 1994, Luật Biển 2012 có tính chất khác nhau; không chỉ đổi tên chúng thành một loại “hiệp định”. Đối chiếu niên đại văn kiện bằng nguồn chính thức. Công ước UNCLOS được thông qua năm 1982, có hiệu lực 16-11-1994; Việt Nam phê chuẩn năm 1994. Đây là ba loại mốc, không phải ba tên khác nhau của một sự kiện. Đọc các hoạt động chính trong sách, đối chiếu mốc hiệu lực bằng nguồn Liên hợp quốc bên dưới.

Bài luyện

Cách ghép các mốc của UNCLOS và Luật Biển Việt Nam nào đúng?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Nhận định nào phân biệt đúng chủ quyền với kiểm soát thực tế ở Hoàng Sa?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Nhận xét nào khái quát đầy đủ các dẫn chứng: tuyên bố năm 1977, tổ chức hành chính năm 1982, chiến đấu và phản đối ngoại giao năm 1988?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Muốn kiểm tra ngày UNCLOS có hiệu lực, nguồn nào trực tiếp phù hợp nhất trong các nguồn sau?
Chọn một đáp án

Những điều cần nhớ

Bảo vệ biển đảo bằng nhiều mặt gắn bó; nhớ UNCLOS 1982, Việt Nam phê chuẩn 1994, DOC 2002, Luật Biển 2012.

Đang học