btvn.vn

Tư vấn di truyền và sàng lọc

Lưu trên thiết bị này
Di truyền quần thể, người và chọn giống · Chọn bài khác

Một kết quả nguy cơ cao nói được điều gì?

Ở bài phả hệ, ta đã tính xác suất theo kiểu gene bố mẹ. Trong thực tế, thông tin di truyền còn cần được giải thích cùng tiền sử gia đình và kết quả xét nghiệm. Đặc biệt, một kết quả sàng lọc nguy cơ cao chưa đồng nghĩa người được xét nghiệm chắc chắn có tình trạng đang được khảo sát.

Tư vấn giúp hiểu thông tin và lựa chọn

Tư vấn di truyền giúp cá nhân hoặc gia đình hiểu nguy cơ, ý nghĩa xét nghiệm và các lựa chọn chăm sóc phù hợp. Thông tin có thể gồm tiền sử gia đình, phả hệ, xét nghiệm tế bào, phân tử hoặc hóa sinh. Mục tiêu là cung cấp thông tin rõ để người được tư vấn tự quyết định. Một allele hoặc kết quả xét nghiệm không dùng để đánh giá giá trị của một người.

Mỗi phương pháp trả lời một loại câu hỏi

SGK trình bày nhiều cách nghiên cứu di truyền người. Ta có thể phân biệt theo đối tượng thông tin: | Cách nghiên cứu | Thông tin chủ yếu | |---|---| | Phả hệ | Quan hệ gia đình và sự biểu hiện tính trạng qua các thế hệ | | Di truyền tế bào | Số lượng, hình thái hoặc bất thường NST có thể nhận biết bằng phương pháp sử dụng | | Di truyền phân tử | Trình tự hoặc biến đổi ở DNA/gene được khảo sát | | Di truyền hóa sinh | Sản phẩm và hoạt động liên quan đến biểu hiện gene, chẳng hạn enzyme | | Nghiên cứu trẻ đồng sinh | Góp phần tìm hiểu vai trò của di truyền và môi trường | Không có một phương pháp đơn lẻ trả lời mọi câu hỏi. Chẳng hạn, đếm đủ số NST không loại trừ mọi biến đổi nhỏ ở gene; phả hệ có thể gợi ý quy luật nhưng chưa phân biệt chắc chắn mọi kiểu gene.

Sàng lọc khác chẩn đoán

| Nội dung | Sàng lọc | Chẩn đoán | |---|---|---| | Mục đích | Ước tính nguy cơ, chọn trường hợp cần đánh giá thêm | Xác định hoặc loại trừ tình trạng nghi ngờ trong phạm vi xét nghiệm | | Cách đọc | Nguy cơ cao/thấp chưa phải kết luận chắc chắn | Đọc theo loại và giới hạn của xét nghiệm | NIPT là sàng lọc trước sinh đối với một số tình trạng, không khảo sát toàn bộ hệ gene. Kết quả nguy cơ cao cần được giải thích và có thể dẫn đến đánh giá chẩn đoán phù hợp; nguy cơ thấp không có nghĩa đã loại trừ mọi bất thường. Chọc ối hoặc sinh thiết gai nhau là cách lấy mẫu. Phân tích nào được thực hiện trên mẫu là câu hỏi riêng; tên cách lấy mẫu không tự cho biết mọi gene đã được kiểm tra.

Đọc hai câu nhận xét

Một phiếu minh họa ghi: “Sàng lọc cho thấy nguy cơ cao đối với tình trạng T.” Nhận xét A: “Vậy đã chẩn đoán chắc chắn T.” Nhận xét B: “Cần được giải thích kết quả và đánh giá bước tiếp theo.” Nhận xét B phù hợp hơn. Từ “sàng lọc” cho biết kết quả đang đánh giá nguy cơ. A đã chuyển một ước tính thành kết luận chắc chắn mà chưa có cơ sở. Nếu phiếu ghi nguy cơ thấp, cũng không đổi thành “không thể có T và không có bất thường nào khác”. Ta chỉ diễn giải trong phạm vi tình trạng được khảo sát và độ tin cậy của phương pháp.

Đọc đúng phạm vi NIPT

Một kết quả NIPT được báo là nguy cơ thấp đối với các tình trạng mà xét nghiệm đang sàng lọc. Cách diễn giải nào phù hợp?
Chọn một đáp án

Xác suất 1/4 không phải “cứ bốn con có một”

Trong mô hình một tính trạng lặn trên NST thường, biểu hiện đầy đủ, hai bố mẹ Aa có xác suất sinh con aa là 1/4 ở mỗi lần sinh. Đây là xác suất của từng lần theo mô hình, không phải lịch phân bổ kiểu gene trong một gia đình. Một gia đình có bốn con không bắt buộc có đúng một con aa; sau một lần có con aa, lần tiếp theo vẫn cần xét cùng phép lai. Khi dùng thông tin này ngoài bài tập, còn cần xác định đúng tình trạng, kiểu gene và điều kiện sinh học. Không suy kết luận sức khỏe của một người chỉ từ một tỉ lệ được học trong sách.

Chọn nguồn thông tin phù hợp

Cần tìm hiểu một người có thêm một bản sao của cả NST đang xét hay không. Nguồn thông tin nào liên quan trực tiếp nhất?
Chọn một đáp án

Đọc đúng mức thông tin

Tư vấn di truyền kết hợp nhiều nguồn thông tin để giải thích nguy cơ và lựa chọn. Sàng lọc ước tính nguy cơ; chẩn đoán giải quyết câu hỏi cụ thể trong giới hạn xét nghiệm.

Đang học