Thu được nhiều hôm nay, còn sản xuất được ngày mai không?
Một cách canh tác có thể cho sản lượng cao trong ngắn hạn nhưng làm đất, nước suy thoái. Khi đánh giá bền vững, ta còn xét khả năng duy trì sản xuất, đời sống con người và môi trường về lâu dài.
Ba mặt cần được xem cùng nhau
Phát triển bền vững hướng tới đáp ứng nhu cầu hiện tại mà vẫn giữ khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ sau. Ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường tác động lẫn nhau. Có thu nhập nhưng nguồn nước bị suy thoái chưa phải kết quả cân đối; bảo vệ môi trường cũng cần gắn với điều kiện sống, việc làm và sự tham gia của cộng đồng.
Tái tạo không đồng nghĩa vô hạn
Tài nguyên tái tạo có khả năng phục hồi qua các quá trình tự nhiên trong điều kiện phù hợp, như nguồn sinh vật hoặc nguồn nước được bổ cập. Tài nguyên không tái tạo hình thành quá chậm so với tốc độ con người sử dụng, như nhiên liệu hóa thạch.
Nếu khai thác nhanh hơn khả năng phục hồi hoặc làm hỏng điều kiện tái tạo, tài nguyên vẫn có thể suy kiệt. Rừng bị mất đất và nguồn cây tái sinh khó phục hồi chỉ bằng cách chờ; nguồn nước có thể không dùng được vì ô nhiễm.
Sử dụng hợp lí gồm giảm lãng phí, nâng hiệu quả, tái sử dụng/tái chế phù hợp và hạn chế tác động lên hệ sinh thái. Không chỉ chuyển từ nguồn này sang nguồn khác rồi bỏ qua tác động mới.
Gắn biện pháp với loại tài nguyên
| Tài nguyên | Hướng sử dụng và bảo vệ |
|---|---|
| Đất | Duy trì che phủ phù hợp, hạn chế xói mòn, quản lí dinh dưỡng và chất thải |
| Nước | Tiết kiệm, bảo vệ vùng cung cấp nước, xử lí nguồn thải và quản lí khai thác |
| Rừng | Bảo vệ rừng tự nhiên, khai thác phù hợp khả năng tái sinh, phục hồi nơi suy thoái |
| Năng lượng | Giảm tiêu thụ lãng phí, tăng hiệu quả, sử dụng nguồn tái tạo phù hợp điều kiện |
Năng lượng tái tạo cũng cần đất, vật liệu và quản lí thiết bị; không có nghĩa mọi dự án đều không có tác động môi trường. Với câu hỏi phổ thông, nêu lợi ích chính và điều kiện sử dụng phù hợp, không cần suy rộng thành một kết luận tuyệt đối.
Giảm nguồn thải trước, xử lí phù hợp sau
Ô nhiễm có thể liên quan tới thay đổi vật lí, hóa học hoặc sinh học gây ảnh hưởng bất lợi. Theo thành phần, ta có thể xét ô nhiễm nước, không khí hoặc đất; theo tác nhân có thể xét tiếng ồn, chất thải nhựa hoặc những chất cụ thể. Một tình huống có thể được gọi tên theo nhiều tiêu chí. Biện pháp gồm hạn chế phát sinh, thu gom/phân loại, xử lí phù hợp và theo dõi. Không biến “tái chế” thành lí do tiếp tục sử dụng và thải bỏ tùy tiện.
Đánh giá cách canh tác
Một mô hình minh họa luân canh cây, giữ lớp phủ đất phù hợp, tưới theo nhu cầu và quản lí sâu hại dựa trên theo dõi thực tế.
Ta giải thích:
- Lớp phủ góp phần hạn chế mất nước và xói mòn; quản lí nước giảm lãng phí.
- Luân canh phù hợp có thể góp phần quản lí dinh dưỡng và gián đoạn một số vòng đời sâu bệnh.
- Theo dõi sâu hại giúp lựa chọn biện pháp đúng lúc, hạn chế can thiệp không cần thiết.
Để đánh giá bền vững, còn xem năng suất, chi phí, thu nhập và ảnh hưởng tới người lao động, cộng đồng. Không chỉ thấy có cây che phủ rồi kết luận toàn bộ mô hình chắc chắn tốt trong mọi vùng.
Đấu tranh sinh học dùng thiên địch hoặc tác nhân sinh học phù hợp để góp phần kiểm soát sinh vật gây hại, không nhất thiết tiêu diệt sạch. Việc chọn và quản lí phải có căn cứ chuyên môn; không tự thả loài lạ vì có thể tạo tác động ngoài dự kiến.
Dùng thiên địch có điều kiện
Một cơ sở muốn dùng thiên địch để hạn chế sâu hại. Phương án nào phù hợp với nguyên tắc đấu tranh sinh học và quản lí hệ sinh thái?
Tự thả loài và đặt mục tiêu tiêu diệt sạch có thể gây tác động ngoài dự kiến lên hệ sinh thái.
Đúng. Hiệu quả và an toàn phụ thuộc loài, điều kiện sử dụng, quản lí và theo dõi.
Loài ngoại lai có thể tác động tới sinh vật không phải mục tiêu hoặc trở thành loài xâm hại.
Theo dõi là cần thiết để đánh giá mức khống chế sâu hại và các tác động không mong muốn.
Lời giải
Đấu tranh sinh học cần thiên địch phù hợp với sâu hại và điều kiện sản xuất, được lựa chọn, quản lí, theo dõi theo hướng dẫn chuyên môn. Mục tiêu là khống chế sâu hại ở mức phù hợp, không phải tự thả loài hoặc buộc phải tiêu diệt sạch. Chọn B.
Dân số, đời sống và môi trường
Quy mô, cơ cấu và phân bố dân số ảnh hưởng nhu cầu nhà ở, nước, lương thực, giáo dục, y tế và việc làm. Tác động môi trường còn phụ thuộc mức tiêu dùng, công nghệ và quản lí, không chỉ số người. Giáo dục, chăm sóc sức khỏe và việc cá nhân, gia đình chủ động lập kế hoạch phù hợp điều kiện sống góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống. Không dùng một mục tiêu dân số hay số liệu cũ cho mọi nơi, mọi thời điểm.
Đánh giá đủ dữ liệu của dự án
Một dự án giảm lượng nước dùng từ 500 xuống 400 m³ trong cùng kì. Chất thải hiện là 12 kg trong 3 ngày, trước đó là 5 kg/ngày. Thu nhập được duy trì nhưng điều kiện lao động chưa được bảo đảm. Đánh giá nào đúng?
Đúng. Các số liệu đã được quy về cùng cơ sở và kết luận vẫn xét đủ mặt xã hội.
Mức giảm phải chia cho lượng ban đầu 500; 12 kg là tổng của 3 ngày, không phải mỗi ngày.
Dự án vẫn dùng 400 m³ nước; phát triển bền vững còn phải xét mặt xã hội.
Có thể chia 12 kg cho 3 ngày để được 4 kg/ngày rồi so với 5 kg/ngày.
Lời giải
Tỉ lệ giảm nước là
$$\frac{500-400}{500}\times100\%=20\%.$$
Quy lượng chất thải về cùng thời gian: $12/3=4\,\mathrm{kg/ngày}$, thấp hơn $5\,\mathrm{kg/ngày}$. Đây là cải thiện về sử dụng tài nguyên và môi trường; thu nhập liên quan mặt kinh tế. Điều kiện lao động chưa được bảo đảm nên mặt xã hội vẫn cần cải thiện. Chọn A.
Việc nhỏ cần có kết quả cụ thể
Kết quả hoạt động cần được quy về cùng mẫu số trước khi so:
| Dữ liệu | Cách tính | Kết quả |
|---|---|---:|
| Nước dùng giảm từ 500 xuống 400 lít | $(500-400)/500\times100\%$ | giảm 20% |
| Rác 12 kg trong 3 ngày | $12/3$ | 4 kg/ngày |
Mức 4 kg/ngày thấp hơn 5 kg/ngày khi hai báo cáo có cùng phạm vi và cách đo. Một chỉ tiêu tốt lên chưa tự chứng minh toàn bộ hoạt động đã bền vững; vẫn cần xem kinh tế, xã hội, môi trường và thời gian theo dõi.
Giữ điều kiện để tiếp tục sử dụng
Xem cả kinh tế, xã hội, môi trường; tôn trọng khả năng tái tạo và sức chịu tác động của hệ. Với câu vận dụng, nối nguyên nhân, biện pháp và tác dụng cụ thể thay vì chỉ liệt kê “bảo vệ môi trường”.
Đang học