btvn.vn

Hô hấp tế bào và lên men

Lưu trên thiết bị này
Tế bào, vi sinh vật và virus · Chọn bài khác

Tế bào thu năng lượng từ glucose như thế nào?

Glucose có thể được phân giải qua nhiều phản ứng liên tiếp. Một phần năng lượng được chuyển sang ATP, một phần tỏa thành nhiệt. Ta theo dõi chất đi đâu và ATP được tạo ở bước nào, thay vì chỉ nhớ một con số tổng.

Hô hấp hiếu khí

Xét sự oxy hóa hoàn toàn glucose: glucose và O₂ tạo CO₂, H₂O, đồng thời giải phóng năng lượng. O₂ là chất nhận electron cuối cùng trong chuỗi truyền electron, góp phần tạo nước. Không hiểu oxygen phải tham gia trực tiếp vào mọi phản ứng của đường phân hoặc chu trình Krebs. Ở tế bào nhân thực, đường phân diễn ra trong bào tương; các giai đoạn tiếp theo gắn với ti thể. Vi khuẩn không có ti thể vẫn có thể hô hấp nhờ những cấu trúc phù hợp của tế bào.

Lần theo một phân tử glucose

| Giai đoạn | Vị trí ở tế bào nhân thực | Theo dõi từ một glucose | |---|---|---| | Đường phân | Bào tương | 1 glucose 6C → 2 pyruvate 3C; tạo 4 ATP, dùng 2 ATP nên thu ròng 2 ATP; tạo 2 NADH | | Chuyển pyruvate thành acetyl-CoA | Chất nền ti thể | 2 pyruvate → 2 acetyl-CoA; giải phóng 2 CO₂ và tạo 2 NADH | | Chu trình Krebs | Chất nền ti thể | Hai lượt tạo tổng 4 CO₂, 6 NADH, 2 FADH₂ và lượng tương đương 2 ATP theo cách tính cơ bản | | Chuỗi truyền electron và tổng hợp ATP | Màng trong ti thể | Electron tạo điều kiện hình thành chênh lệch H⁺; H⁺ qua ATP synthase gắn với phần lớn ATP; O₂ là chất nhận electron cuối cùng | Đường phân không trực tiếp cần O₂. Không bỏ bước nối trước Krebs khi đếm carbon.

Đếm carbon không bỏ bước nối

Một glucose có 6 carbon. Đường phân cho hai pyruvate: 2 × 3 = 6 carbon, chưa giải phóng CO₂. Bước chuyển hai pyruvate thành acetyl-CoA giải phóng 2 CO₂; hai lượt Krebs giải phóng thêm 4 CO₂. Tổng là 6 CO₂. Nếu chỉ đếm 4 CO₂ ở Krebs rồi kết luận toàn bộ hô hấp tạo 4 CO₂, ta đã bỏ sót bước nối.

Theo dõi carbon trong hô hấp

Ba phân tử glucose được oxy hóa hoàn toàn theo con đường đang xét, toàn bộ carbon cuối cùng đi vào CO₂. Có bao nhiêu pyruvate sau đường phân và bao nhiêu CO₂ khi hoàn tất toàn bộ quá trình?
Chọn một đáp án

Dùng số ATP theo phạm vi bài toán

Theo cách tính phổ biến đang dùng trong SGK, hô hấp hiếu khí một glucose ở tế bào nhân thực thu khoảng 30–32 ATP; lượng thực tế phụ thuộc điều kiện và cách vận chuyển, ghép năng lượng. Khi đề cho một quy ước cụ thể, dùng đúng quy ước ấy. Không lấy số ATP tạo ra trước khi trừ chi phí của đường phân rồi cộng lần nữa. NADH và FADH₂ mang electron tới các quá trình tiếp theo, không phải các tên khác của ATP. Không cộng trực tiếp số phân tử NADH vào số ATP nếu đề chưa cho cách quy đổi.

Lên men giúp đường phân tiếp tục

Ở các kiểu lên men thường học, pyruvate hoặc chất hữu cơ dẫn xuất nhận electron từ NADH, tái tạo NAD⁺ để đường phân tiếp tục. Lên men không dùng chuỗi truyền electron hô hấp. ATP thu ròng là 2 trên một glucose, có nguồn từ đường phân. Lên men lactate tạo lactate, không giải phóng CO₂ trong con đường điển hình này. Lên men ethanol tạo ethanol và CO₂. Sản phẩm hữu cơ vẫn chứa nhiều năng lượng, nên thu ATP thấp hơn oxy hóa hoàn toàn. **Hô hấp kị khí** khác lên men: có chuỗi truyền electron nhưng chất nhận electron cuối cùng không phải O₂. Vì vậy, không gộp mọi quá trình không dùng oxygen thành lên men.

So sánh với giả thiết rõ ràng

Giả sử đề quy ước hô hấp hiếu khí thu 30 ATP/glucose, lên men thu 2 ATP/glucose. Để có tổng 60 ATP theo mô hình này, cần 60/30 = 2 glucose khi hô hấp, hoặc 60/2 = 30 glucose khi lên men. Đây là so sánh hiệu quả ATP theo giả thiết, không có nghĩa mọi tế bào ngoài thực tế đều hoạt động đúng các con số cố định đó.

Tính ATP ròng theo quy ước

Theo đúng quy ước của đề: hô hấp hiếu khí thu ròng 32 ATP trên mỗi glucose, còn lên men thu ròng 2 ATP trên mỗi glucose. Năm glucose cho kết quả nào?
Chọn một đáp án

Nhớ theo quá trình

Đường phân → bước nối → Krebs → chuỗi truyền electron. Phân biệt ATP thu ròng, chất mang electron và số carbon. Lên men tái tạo NAD⁺, thu ít ATP từ đường phân; không đồng nhất với hô hấp kị khí.

Đang học