Hai hướng tìm hiểu một tiến trình
Văn bản thông tin của Trần Đình Sử giúp hình dung sự phát triển của văn học Việt Nam. Nhan đề nêu hai hướng triển khai: quan hệ giữa văn học Việt Nam với khu vực, thế giới; và quá trình chuyển biến từ truyền thống đến hiện đại. Hai hướng gắn với nhau, không phải hai chặng tách biệt hoàn toàn.
Nhận định văn học Việt Nam vừa cổ xưa vừa non trẻ được giải thích theo những phương diện khác nhau. Truyền thống văn học dân gian có cội nguồn lâu đời; còn văn học viết hình thành muộn hơn khi so với một số nền văn học cổ trên thế giới. Non trẻ trong so sánh ấy không có nghĩa là kém giá trị.
Quá trình tiếp nhận cũng là quá trình sáng tạo. Văn học chữ Hán tiếp thu hình thức từ bên ngoài nhưng thể hiện đời sống, tinh thần Việt Nam. Chữ Nôm được tạo lập trên cơ sở chữ Hán để ghi tiếng Việt, mở rộng khả năng biểu đạt của tiếng nói dân tộc. Về sau, chữ quốc ngữ và giao lưu với phương Tây góp phần thúc đẩy sự đổi mới về thể loại, cách viết và công chúng đọc.
Những thay đổi hình thức không xoá mối quan tâm tới đất nước và con người. Khi đọc, cần nối một nhận xét khái quát với ví dụ về chữ viết, thể loại hoặc tác phẩm mà văn bản nêu.
Tiếp nhận không chỉ là mang hình thức về dùng
Phân tích do BTVN biên soạn theo bài Trần Đình Sử trong SGK:
Khái niệm **di thực** trong chú thích giúp hiểu việc tiếp nhận một hình thức văn học rồi cải biến để phù hợp môi trường văn hoá mới. Vì vậy, không nên hiểu văn học chữ Hán của Việt Nam chỉ là bản sao của văn học Trung Quốc. Cùng một hệ chữ, người viết có thể thể hiện lịch sử, tâm hồn và khát vọng riêng của dân tộc.
Sự phát triển của chữ Nôm cho thấy thêm một bước chủ động: sáng tạo hệ chữ để ghi tiếng Việt và dùng tiếng Việt trong những tác phẩm có giá trị lớn, như Truyện Kiều. Chữ Hán và chữ Nôm từng cùng được sử dụng, chứ không phải một hệ chữ lập tức xoá bỏ hệ chữ kia.
Đến quá trình hiện đại hoá, sự phổ biến của chữ quốc ngữ đi cùng những thay đổi về đời sống xuất bản, người đọc và hình thức sáng tác. Do đó, chuyển biến từ truyền thống đến hiện đại không chỉ là thay kiểu chữ; đó còn là đổi mới cách phản ánh đời sống và tổ chức tác phẩm.
Củng cố kiến thức
Trong bài, nhận định vừa cổ xưa vừa non trẻ nên được hiểu thế nào?
Bài phân biệt cội nguồn dân gian với thời điểm hình thành văn học viết trong so sánh.
Bài không giải thích nhận định bằng tuổi nhà văn hoặc riêng hình thức thơ.
Đúng: cần giữ đúng đối tượng và căn cứ so sánh.
So sánh thời điểm hình thành không đồng nghĩa xếp hạng giá trị.
Lời giải
Đáp án C. Cổ xưa gắn với cội nguồn và truyền thống dân gian lâu đời. Non trẻ được giải thích khi đặt sự hình thành văn học viết bên cạnh một số nền văn học cổ khác. Hai ý không mâu thuẫn vì không dựa trên cùng một phương diện.
Củng cố kiến thức
Ví dụ nào thể hiện rõ việc tiếp nhận gắn với sáng tạo mà bài giải thích?
Đúng: hình thức được tiếp nhận có thể mang nội dung và dấu ấn riêng.
Đây là sao chép nguyên, không làm rõ sự cải biến.
Hiện đại hoá liên quan nhiều mặt hơn hệ chữ.
Sự phát triển còn có kế thừa, không chỉ loại bỏ.
Lời giải
Đáp án A. Dùng một hệ chữ có nguồn gốc bên ngoài không có nghĩa nội dung tác phẩm cũng chỉ lặp lại nguồn ngoài. Người viết có thể dùng hình thức ấy để biểu đạt đời sống và tinh thần Việt Nam. Đây là mối quan hệ giữa giao lưu và việc tạo bản sắc riêng.