Cùng cảnh xuân, khác cách cảm nhận
Trong **Mưa xuân**, mưa, hoa xoan, hội chèo xuất hiện nhiều lần nhưng không giữ nguyên sắc thái. Ở đầu, cảnh gắn với sự trẻ trung, niềm mong gặp. Về sau, cảnh mang dấu hiệu tàn phai, lỡ làng, phù hợp nỗi buồn của cô gái.
Đối chiếu hình ảnh cần theo **hai thời điểm cụ thể**: trước khi đi hội và sau khi chờ mà không gặp. Sự thay đổi có cả thời gian, cảnh vật và cách cô cảm nhận cảnh vật; không nên chỉ kết luận chung “cảnh đẹp nên cô vui, cảnh xấu nên cô buồn”.
Ngôn ngữ bài thơ gần lời ăn tiếng nói của làng quê: cách phủ định, lời hờn trách, thành ngữ về lời hẹn nhiều lần. Sự giản dị ấy vẫn diễn tả tinh tế những cung bậc hồi hộp, nhớ thương, tủi thân. Các biện pháp như so sánh, nhân hoá, điệp ngữ giúp cảnh và tình gắn bó.
Đặt hình ảnh trước và sau cạnh nhau
Bảng dưới diễn ý theo bản **Mưa xuân** trong SGK:
| Trước hội | Sau khi không gặp |
|---|---|
| Mưa xuân bay phơi phới; mưa bụi không làm ướt áo | Trên đường về thấy mưa nặng hạt; về cuối bài mưa cũng ngại bay |
| Hoa xoan rụng thành nhiều lớp, gợi cảnh xuân đang đầy | Hoa xoan đã nát dưới chân, gợi sự tàn phai |
| Đường đến hội được cảm là chỉ một đoạn đê | Đường về được cảm là cả một dải đê dài |
| Lời mẹ báo có hát tối nay mở ra cơ hội gặp | Lời mẹ về mùa xuân cạn ngày gợi thời gian và cơ hội đang qua |
Đường đi và về được nói bằng hai cách khác nhau. Lúc háo hức, cô thấy đường gần; khi thất vọng, đi một mình, cô thấy đường dài và thêm lạnh. Cách đối chiếu cho thấy cảnh được cảm nhận qua tâm trạng, không phải đo chiều dài con đê.
Cụm **“mưa xuân đã ngại bay”** nhân hoá mưa bằng trạng thái của con người. Mưa cuối xuân thưa, chậm cũng như mang vẻ ngại ngần, mệt mỏi; cảnh thêm đồng điệu với sự hụt hẫng của cô gái.
Phân tích do BTVN biên soạn.
Củng cố kiến thức
Vì sao lời thơ cảm thấy đường đến hội gần mà đường về dài?
Bài không kể việc đổi đường; cách nói về đê làm rõ tâm trạng.
Đúng: sự đối chiếu bộc lộ biến đổi tâm trạng.
Bản thơ không có sự việc đổi phương tiện như vậy.
Đoạn trở về nhấn nỗi buồn, sự cô đơn sau lỡ hẹn, không nói cô sợ mẹ trách.
Lời giải
Đáp án B. Trước hội, niềm tin sẽ gặp người thương làm cô thấy mưa nhẹ, đường gần. Sau khi chờ mà không gặp, cô đi một mình trong lạnh và buồn nên cảm thấy đường dài. Hai cách nói giúp diễn tả tâm trạng, không cung cấp hai số đo quãng đường.
Củng cố kiến thức
Cách phân tích nào giải thích đúng nhân hoá ở cụm “mưa xuân đã ngại bay”?
Nhân hoá không biến mưa thành người thật có lựa chọn.
Ở đây nét nhân hoá rõ là trạng thái ngại.
Đúng: nêu dấu hiệu, cảnh gợi ra và quan hệ với tình cảm.
Không phù hợp mạch tiếc nuối sau lỡ hẹn.
Lời giải
Đáp án C. Từ ngại vốn chỉ trạng thái con người được dùng cho mưa. Cách nói gợi mưa thưa, chậm vào cuối xuân và mang sắc thái ngại ngần, như chia sẻ nỗi buồn, tiếc của cô gái. Nêu tên nhân hoá cần đi cùng tác dụng cụ thể như vậy.