Hai văn bản, hai cách thể hiện
**Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng** là bài thơ của **Lý Bạch**, kể cuộc tiễn người bạn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng. Hai câu đầu nêu người ra đi, nơi tiễn, thời gian và hướng đi. Hai câu cuối tập trung vào cánh buồm xa dần, khuất vào khoảng trời xanh, rồi chỉ còn dòng Trường Giang chảy về chân trời.
**Nguyễn Khắc Phi** viết bài nghị luận để làm rõ đây là một bài thơ tiễn biệt tiêu biểu của thơ Đường. Người đọc cần theo dõi cả ý kiến của ông và những từ ngữ, hình ảnh thơ được dùng làm bằng chứng.
Bài nghị luận phân tích hai câu đầu trước, rồi đi sâu vào hai câu cuối. Cách gọi cố nhân gợi sự thân thiết; cảnh đưa tiễn giữa mùa xuân đẹp chứa sự lưu luyến. Ở cuối, cánh buồm lẻ loi và ánh nhìn không rời cho thấy tâm tình người ở lại.
Để làm nổi nét riêng, người viết còn đối chiếu với những câu thơ tiễn biệt khác. Qua đó, ông chỉ ra tình cảm ở bài này không được nói trực tiếp hay đem so với độ dài dòng nước: **tình đã hoà vào cảnh**, gợi sâu mà lời vẫn giản dị.
Từ cánh buồm xa dần đến ánh nhìn lưu luyến
Trong phiên âm hai câu cuối, các từ **cô**, **viễn**, **tận**, **duy** lần lượt gợi sự đơn chiếc, xa dần, mất hút và chỉ còn thấy một cảnh trước mắt. Nguyễn Khắc Phi chú ý quá trình chuyển dịch ấy, không chỉ tóm tắt rằng con thuyền đã đi.
**Cánh buồm dần khuất nhưng ánh nhìn vẫn theo.** Khi cảnh đã chỉ còn sông nước, người tiễn vẫn đứng đó. Vì vậy, hình ảnh bên ngoài đồng thời làm hiện ra nỗi lưu luyến bên trong. Không có lời trực tiếp nói nhớ thương mà tình bạn vẫn được cảm thấy.
**So sánh giúp nhận ra cách biểu đạt riêng.** Một số câu thơ khác dùng các từ chỉ tình biệt li hoặc so tình với dòng nước. Ở bài đang đọc, bầu trời và dòng sông không phải hai vật được đem đo với tình cảm; chúng mở ra một không gian mênh mang để tình cảm thấm vào.
**Cách lập luận:** nhận xét về tình hoà cảnh được chứng minh bằng việc phân tích từ ngữ, trình tự hình ảnh và đối chiếu với ngữ liệu khác. Khi đọc phê bình, cần giữ cả ba phần ấy. Chỉ chép kết luận hàm súc mà không chỉ ra cảnh, từ và ánh nhìn thì chưa hiểu cách người viết làm kết luận thuyết phục.
Củng cố kiến thức
Cánh buồm đã khuất nhưng người tiễn vẫn nhìn theo làm rõ điều gì trong lập luận của Nguyễn Khắc Phi?
Đúng: cảnh bên ngoài gợi tâm tình bên trong.
Việc vẫn nhìn theo khi thuyền đã khuất cho thấy người tiễn còn lưu luyến.
Hai câu cuối không nói thẳng nỗi nhớ; tình cảm được gợi qua cảnh và ánh nhìn.
Đây không phải phép so sánh được hai câu cuối nêu.
Lời giải
Đáp án A. Quá trình cánh buồm xa rồi mất hút cho thấy người tiễn dõi theo rất lâu. Khi không còn thấy thuyền mà ánh nhìn vẫn hướng về sông trời, nỗi lưu luyến được gợi ra qua cảnh. Đó là cơ sở của nhận xét tình hoà vào cảnh.
Củng cố kiến thức
Nguyễn Khắc Phi dẫn thêm những câu thơ tiễn biệt khác chủ yếu để làm gì?
Bằng chứng mở rộng hỗ trợ, không thay đối tượng chính.
Chính sự khác nhau giúp nhận ra nét riêng.
Đúng: so sánh phục vụ luận điểm về cách biểu đạt.
Người viết làm rõ vẻ đẹp của cách để tình hoà trong cảnh, không bắt buộc thơ phải nói thẳng nỗi nhớ.
Lời giải
Đáp án C. Các câu đối chiếu có dấu vết trực tiếp của nỗi lòng hoặc so sánh tình với nước. Nhờ đặt bên nhau, người viết làm rõ cách hai câu Lý Bạch để tình cảm thấm vào cảnh mà không nói thẳng. Việc dẫn thêm vẫn hướng về bài thơ chính.