Tả cây để nói về người
“Vịnh cây vông” của Nguyễn Công Trứ là bài thất ngôn bát cú Đường luật. Cây vông cao lớn nhưng gỗ xốp, mềm, chịu lực kém, không bền; các đặc điểm ấy được dùng để tạo một hình tượng trào phúng.
Bài không chỉ nhận xét một loài cây. Qua hình tượng vông, tác giả châm biếm những người có vẻ ngoài, tuổi tác hay địa vị mà thiếu thực tài, không xứng với trách nhiệm lớn. Cần theo dõi cả những từ gợi chuyện con người, không chỉ đọc như lời hướng dẫn trồng cây.
Cao lớn nhưng không làm được rường cột
“Vịnh cây vông” – Nguyễn Công Trứ, theo bản SGK:
Biền, nam, khởi, tử, chẳng vun trồng,
Cao lớn làm chi những thứ vông.
Tuổi tác càng già, càng xốp xáp,
Ruột gan không có, có gai chông.
Ra tài lương đống không nên mặt,
Dựa chốn phiên li chút đỡ lòng.
Đã biết nòi nào thời giống nấy,
Khen cho rứa cũng trổ ra bông.
“Biền, nam, khởi, tử” là những loại cây quý được đặt bên vông. Câu hỏi “cao lớn làm chi” mở ra khoảng cách giữa hình dáng với giá trị. Hai câu thực tiếp tục nhấn càng già càng xốp, “ruột gan không có” mà lại có gai: vẻ ngoài không đi cùng phần cốt lõi.
“Lương đống” là rường cột, còn dùng để chỉ người tài giữ trọng trách. Nói cây vông “ra tài lương đống không nên mặt” nối câu chuyện cây với người thiếu khả năng mà muốn làm việc lớn. “Phiên li” là phên giậu, bờ rào; hình ảnh làm nổi giới hạn của công dụng so với sự cao lớn phô ra.
Những cách nói về tuổi tác, ruột gan, ra tài khiến cây mang nét con người. Qua đó, hình tượng cây phê phán sự không tương xứng giữa địa vị với thực tài.
“Khen” mà không thật sự ca ngợi
“Rứa” nghĩa là thế, vậy. Câu cuối có chữ “khen”, nhưng trước đó bài liên tiếp chỉ ra sự rỗng, xốp và không làm nổi rường cột. Vì vậy, việc cây trổ bông không xoá được nhận xét về phần thực chất thiếu hụt.
Lời khen mang sắc thái mỉa mai, khép lại tiếng cười đối với sự cao lớn mà vô dụng trong vai trò lớn. Điều bị phê phán không phải cứ ai cao hoặc nhiều tuổi đều kém; đó là sự không tương xứng giữa dáng vẻ, vị thế với tài năng và giá trị thật.
Củng cố kiến thức
Từ “lương đống” giúp nhận ra ý ẩn dụ của hình tượng cây vông bằng cách nào?
Đúng. Nghĩa về vật và về người cùng giúp hiểu hình tượng.
Bài nhấn điều ngược lại về phần thực chất.
Từ này mở nghĩa sang chuyện tài năng, trách nhiệm.
Không đủ căn cứ xác định một tên riêng.
Lời giải
Đáp án A. Rường cột là phần chịu việc lớn của ngôi nhà; nghĩa chuyển chỉ người có tài, giữ vai trò quan trọng. Cây vông cao lớn mà không làm được rường cột gợi người có vẻ ngoài hoặc địa vị nhưng thiếu khả năng xứng đáng.
Củng cố kiến thức
Vì sao chữ “khen” ở cuối bài mang sắc thái mỉa mai?
Phải xét ngữ cảnh mới xác định sắc thái.
Quan hệ toàn bài là căn cứ để hiểu chữ khen.
Đúng. Những chi tiết trước làm rõ nghĩa mỉa mai.
Bài không lấy việc trổ bông để khẳng định năng lực rường cột.
Lời giải
Đáp án C. Cây đã được miêu tả là xốp, thiếu ruột gan, không làm nổi lương đống. Lời khen trổ bông đặt sau các nhận xét ấy không đảo thành ca ngợi toàn bộ, mà nhấn cái đáng cười của vẻ ngoài không tương xứng với thực chất.