btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Thán từ: cảm xúc, gọi–đáp và cách dùng

Lưu trên thiết bị này
Chân dung cuộc sống · Chọn bài khác

Bộc lộ cảm xúc khác với gọi tên cảm xúc

Thán từ dùng để trực tiếp bộc lộ tình cảm, cảm xúc hoặc gọi–đáp. Các tiếng như ôi, a, chao ôi thường dùng biểu cảm; các tiếng như ơi, vâng, dạ thường dùng gọi–đáp. Thán từ có thể kết hợp ngữ điệu, nét mặt hoặc điệu bộ để thể hiện rõ ý. Không phải một từ gọi tên cảm xúc như “vui”, “buồn” cứ đứng trong câu là thán từ. Thán từ bộc lộ trực tiếp phản ứng. Cảm xúc của “ôi” hoặc “a” cần đọc tình huống: có thể ngạc nhiên, vui, tiếc hoặc lo, không áp một trạng thái cho mọi lần dùng. Khi vận dụng, xét quan hệ người nói–nghe và nhiệm vụ. Lời đáp “dạ” có thể phù hợp sự lễ phép; một lời thông báo cần rõ thông tin, không chỉ dùng tiếng cảm thán để thay nội dung.

Ví dụ thán từ trong lời đáp và lời cảm xúc

Các câu do BTVN biên soạn: A. Người lớn hỏi đã kiểm lại danh sách chưa. Lan đáp: “Dạ, cháu đã kiểm lại rồi.” “Dạ” dùng đáp lời, tạo cách nói lễ phép; phần sau mới cung cấp việc đã làm. B. Sau nhiều lần thử, nhóm mở được bản ảnh rõ. Lan reo: “A, ảnh rõ rồi!” Trong tình huống ấy, “a” trực tiếp bộc lộ vui mừng, ngạc nhiên; không phải tên một vật. C. “Lan vui vì ảnh rõ.” Từ “vui” ở C gọi trạng thái được trình bày trong câu, không thực hiện cùng chức năng của tiếng “a”. Cả hai có thể nói về niềm vui nhưng cách biểu đạt khác nhau.

Củng cố kiến thức

“Dạ” trong A thực hiện chức năng nào?
Chọn một đáp án

Củng cố kiến thức

Vì sao không gọi “vui” ở C là thán từ chỉ vì nó nói cảm xúc?
Chọn một đáp án