Nhận diện để chọn cách đọc
Truyện lịch sử cần bối cảnh, nhân vật, sự việc và ngôn ngữ có dấu ấn quá khứ; không chỉ căn cứ ngôi kể thứ ba. Với hài kịch, đọc lời thoại, chỉ dẫn, hành động và xung đột; với truyện cười, xem tình huống, lời nói, chi tiết bất ngờ làm lộ điều bị giễu.
Thơ thất ngôn bát cú và tứ tuyệt Đường luật đều có bảy tiếng mỗi câu, nhưng số câu khác nhau: tám và bốn. Cần kết hợp số câu, tiếng, vần, luật, niêm, đối theo dạng cụ thể. Nội dung trào phúng là một phương diện khác với thể: thơ Đường luật có thể trữ tình hoặc trào phúng.
Với nghị luận, tìm luận đề, luận điểm và quan hệ giữa lí lẽ, bằng chứng. Dù đọc loại nào, nhận xét cần chi tiết và lời giải thích, không chỉ gắn tên thể loại hoặc một lời khen.
Ví dụ nhận diện và đọc cảnh–tình
“Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan, theo văn bản trong SGK:
Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn.
Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?
Phân tích do BTVN biên soạn: bài có tám câu, mỗi câu bảy tiếng; các tiếng cuối hoàng hôn, đồn, thôn, dồn, ôn góp phần nhận ra vần bằng ở câu 1,2,4,6,8. Ở hai câu 3–4, các hoạt động của ngư ông, mục tử đặt trong cấu trúc đối; cách đưa hoạt động lên trước làm chúng nổi bật.
Cảnh chiều với người về, chim mỏi và bước khách được nối tới lời người lữ thứ muốn chia sẻ nỗi niềm. Vì thế, phân tích không chỉ đếm thể: cần làm rõ cảnh gợi sự xa cách và nhớ nhà. Không tự xác nhận nhà thơ đang ở một địa danh cụ thể khi chưa có nguồn hoàn cảnh.
Củng cố kiến thức
Căn cứ nào phù hợp nhận diện thể của bài thơ minh hoạ?
Đúng: số câu, tiếng và luật là căn cứ hình thức.
Dấu hỏi không xác định thể thơ.
Một tác giả có thể viết nhiều thể.
Cảnh chiều là nội dung, không quyết định thể.
Lời giải
Đáp án A. Đếm trực tiếp tám câu và bảy tiếng mỗi câu, rồi đối chiếu vần, đối và các đặc điểm luật. Các căn cứ này giúp nhận diện thất ngôn bát cú Đường luật; không dùng một chi tiết nội dung làm tiêu chí hình thức.
Củng cố kiến thức
Những tiếng nào góp vào vần cuối câu 1,2,4,6,8 của bài?
Không phải nhóm cuối các câu được nêu.
Đúng: đọc tiếng cuối đúng các câu, có vần ôn và thanh bằng.
Các tiếng này không ở các vị trí hỏi.
Không phải nhóm tiếng cuối ấy.
Lời giải
Đáp án B. Lần lượt đọc tiếng cuối các câu 1,2,4,6,8: hôn–đồn–thôn–dồn–ôn. Chúng cùng hiệp vần bằng; đây là quan sát từ bản thơ, không đoán từ nhan đề.
Củng cố kiến thức
Cách đọc cảnh–tình nào có căn cứ hơn?
Số danh từ chưa giải thích cảm xúc.
Thơ không phải dữ liệu đo khí hậu.
Đúng: chi tiết và lời cuối cùng làm rõ mạch cảm xúc.
Lời cuối giúp hiểu cảm xúc từ cảnh.
Lời giải
Đáp án C. Các hình ảnh không đứng riêng: cảnh cuối ngày và người đi xa được nối với sự không có người chia sẻ nỗi niềm. Muốn nhận xét cảm xúc cần quan hệ ấy, không chỉ một lời “buồn” thiếu căn cứ.
Củng cố kiến thức
Với “Một cuộc đấu vật” trích Trên sông truyền hịch của Hà Ân trong phần ôn SGK, căn cứ nhận diện truyện lịch sử nào phù hợp?
Ngôi ba có ở nhiều thể loại.
Cuộc thi không tự xác định thời đại hay thể loại.
Độ dài không quyết định.
Đúng: kết hợp những dấu hiệu nội dung và ngôn ngữ.
Lời giải
Đáp án D. Bản trích có Trần Quốc Tuấn, Trần Ích Tắc, Yết Kiêu và cách gọi, sinh hoạt gắn thời Trần. Các dấu ấn ấy phối hợp làm rõ truyện lịch sử; ngôi kể riêng chưa đủ. Sáng tạo lời và tình huống văn học vẫn không tự thành biên bản lịch sử.