Đọc ca dao trào phúng từ chi tiết cụ thể
Ca dao trào phúng dùng lời thơ dân gian để giễu thói xấu hoặc hủ tục. Lời ngắn, có nhịp, có hình ảnh và nhiều hàm ý; điều đáng chê có thể được nói qua sự đối lập hoặc phóng đại.
Với mỗi bài, cần xác định **đối tượng bị giễu**, tìm lời nói hoặc hình ảnh nổi bật, rồi giải thích vì sao chi tiết ấy làm lộ điều đáng cười. Không chỉ nêu chung rằng bài ca dao “phê phán thói xấu”.
Ba bài trong SGK hướng tới những đối tượng khác nhau: thầy cúng tham ăn, kẻ giả bộ quan tâm người mình ức hiếp, và hủ tục thách cưới nặng nề.
Ba bài, ba cách làm lộ điều đáng chê
Phân tích do BTVN biên soạn theo “Chùm ca dao trào phúng” trong SGK.
**Bài 1:**
Chập chập rồi lại cheng cheng
Con gà sống lớn để riêng cho thầy
Đơm xôi thì đơm cho đầy
Đơm mà vơi đĩa thì thầy không ưa.
Âm thanh đầu bài gợi cảnh cúng lễ. Nhưng lời tiếp theo chỉ chăm vào gà lớn, xôi đầy và phần riêng cho thầy. Đặt việc làm ra vẻ trang nghiêm cạnh sự đòi ăn, bài ca dao làm lộ tính tham của thầy cúng.
**Bài 2:**
Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo.
Mèo vốn săn chuột nhưng lại tỏ vẻ ân cần hỏi thăm. Lời đáp về việc chuột làm giỗ cha mèo cũng trái quan hệ thông thường. Sự giả bộ lễ phép đáp lại vẻ quan tâm giả dối, vạch thói đạo đức giả; không nên chỉ đọc đây là một cuộc thăm hỏi thân tình.
**Bài 3:** anh học trò nghèo nói sẽ bán bể, bán sông để lo cưới, rồi kể hàng loạt lễ vật quá lớn hoặc không thể có như ông sao, mỡ muỗi. Cách liệt kê và phóng đại biến yêu cầu thách cưới nặng nề thành điều buồn cười, qua đó giễu hủ tục cản trở tình yêu. Tiếng cười không nhằm chê người nghèo hay phủ nhận mọi món quà cưới.
Củng cố kiến thức
Ở bài ca dao thứ nhất, điều gì làm lộ tính tham của thầy cúng?
Ngữ cảnh là cúng lễ; “thầy” ở đây không chỉ giáo viên.
Chi tiết để riêng cho thầy và xôi đầy bộc lộ mong muốn của thầy.
Lời thơ cho thấy đòi phần ăn, không từ chối.
Đúng: sự đối lập giữa vẻ nghi lễ và lòng tham tạo tiếng cười.
Lời giải
Đáp án D. Câu đầu gợi âm thanh cúng lễ, nhưng ba câu sau lại tập trung vào đồ ăn và phần của thầy. Chính sự chuyển từ vẻ trang nghiêm sang việc đòi gà, xôi làm lộ tính tham và tạo tiếng cười trào phúng.
Củng cố kiến thức
Các lễ vật quá lớn hoặc không thể có trong bài thứ ba có tác dụng gì?
Đúng: điều không thể có làm bật tính vô lí của yêu cầu thách cưới.
Ông sao, mỡ muỗi cùng số lượng phóng đại không phải danh sách thực tế.
Bán bể, bán sông là lời phóng đại gây cười, không phải việc đã làm.
Bài giễu sự đòi hỏi nặng nề, không khuyến khích đòi thêm lễ vật.
Lời giải
Đáp án A. Việc hứa bán bể, bán sông và đưa ra lễ vật không thể có khiến chuyện lo cưới trở nên phi lí. Qua lời đùa và sự liệt kê phóng đại, dân gian phê phán hủ tục thách cưới nặng nề; không xem số lễ vật là thước đo tình yêu.