Quê hương hiện lên qua cuộc sống lao động
Quê hương của Tế Hanh gợi một làng chài ven biển với cảnh thuyền ra khơi, cảnh đón thuyền trở về, người dân và con thuyền sau chuyến đi. Quê nhà không chỉ là cảnh đẹp: đó còn là nơi có những con người khỏe khoắn, cuộc sống lao động sôi nổi, gắn bó với biển.
Cảnh ra khơi diễn ra trong buổi sớm sáng trong. Những từ gợi chuyển động mạnh làm nổi bật sức sống của con thuyền và người lao động. Khi thuyền về, bến đỗ đông vui và cá đầy khoang gợi thành quả cùng niềm vui của dân chài.
Ở cuối bài, lời thơ trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ khi xa quê. Màu nước, cá bạc, cánh buồm và hương vị biển đều được gìn giữ trong kí ức. Tình yêu quê hương vì thế gắn với những nét rất riêng của nơi đã nuôi dưỡng con người.
Từ hình ảnh đến sức gợi
Con thuyền được so sánh với tuấn mã, nghĩa là con ngựa khỏe, đẹp. Đặt trong cảnh băng đi, vượt dòng nước, so sánh làm nổi bật sức mạnh và khí thế ra khơi. Không nên chỉ ghi tên biện pháp mà bỏ vẻ đẹp được thể hiện.
Cánh buồm được so sánh với hồn làng. Một vật cụ thể, quen thuộc của nghề biển gợi điều khó nhìn thấy bằng mắt: tinh thần, sức sống và sự gắn bó của cộng đồng làng chài. Cách hình dung cánh buồm như rướn thân còn khiến nó trở nên sống động, mang dáng vẻ của con người.
Người dân chài có làn da rám nắng, thân hình như mang theo hương vị của biển xa. Hình ảnh vừa chân thực vừa giàu tưởng tượng, gợi sự khỏe khoắn và gắn bó với biển trong cả dáng vẻ con người.
Sau chuyến đi, thuyền được miêu tả như biết mệt, biết nghỉ. Nhân hoá làm chiếc thuyền gần với người lao động đã trải qua vất vả. Cảnh nghỉ yên lặng này bổ sung cho cảnh ra khơi mạnh mẽ, giúp cuộc sống làng chài hiện lên ở nhiều thời điểm.
Nỗi nhớ không chỉ nằm ở lời nói nhớ
Cả phần tái hiện cảnh quê nhà đã chứa tình yêu thương: lời thơ chăm chú vào vẻ đẹp thuyền ra khơi, người dân rám nắng và bến đỗ vui tươi. Đến khổ cuối, cảm xúc trở thành lời nhớ trực tiếp.
Đặc biệt, hương vị nồng mặn gợi một quê hương được cảm nhận bằng nhiều giác quan, gắn với đời sống biển. Từ hình ảnh đến màu sắc, mùi vị, quê nhà vẫn hiện diện rõ nét dù người viết đang xa cách. Vì vậy, đọc bài chỉ như một bức tranh phong cảnh sẽ bỏ mất tình cảm sâu nặng gắn với bức tranh ấy.
Củng cố kiến thức
Trong Quê hương, so sánh cánh buồm với hồn làng có tác dụng chủ yếu nào?
So sánh nằm trong cảnh ra khơi, gắn với cánh buồm căng gió đầy sức sống.
So sánh với hồn làng làm hình ảnh vượt khỏi việc tả một dụng cụ.
Hình ảnh thể hiện sự gắn bó, không phải xa lạ.
Đúng: hình ảnh cụ thể gợi vẻ đẹp tinh thần của quê hương.
Lời giải
Đáp án D. Cánh buồm là vật quen thuộc trong cuộc sống nghề biển; hồn làng gợi tinh thần và sức sống của cộng đồng. So sánh nối hai điều ấy, khiến cánh buồm mang ý nghĩa sâu hơn một dụng cụ đi biển. Hình ảnh nằm trong cảnh ra khơi mạnh mẽ, không phải cảnh thuyền nghỉ sau chuyến đi.
Củng cố kiến thức
Vì sao cần đọc cảnh ra khơi, cảnh thuyền về cùng khổ thơ bộc lộ nỗi nhớ ở cuối bài?
Đúng: những cảnh được tái hiện làm cụ thể đối tượng và chiều sâu nỗi nhớ.
Nỗi nhớ hướng về chính cảnh vật, con người ở các phần trước.
Tình yêu thương đã hiện diện trong cách tái hiện quê nhà.
Người dân chài và cuộc sống lao động là phần quan trọng của quê hương.
Lời giải
Đáp án A. Cảnh ra khơi, bến đỗ và người dân giúp người đọc biết quê hương được nhớ là một nơi như thế nào. Khổ cuối bộc lộ trực tiếp tình cảm đã có trong cách miêu tả ấy. Đọc các phần liên hệ với nhau mới thấy tình yêu gắn với cảnh vật lẫn con người, cuộc sống lao động.