btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Từ ngữ và điệp ngữ trong lời kể cổ tích

Lưu trên thiết bị này
Thế giới cổ tích · Chọn bài khác

Đọc từ ngữ cùng hành động và ngữ cảnh

Một từ có thể làm rõ cách nhân vật thực hiện hành động. Trong Cây khế, người em nghe lời chim, trèo lên lưng chim, chỉ nhặt một ít. Người anh lại cuống quýt chuẩn bị, tót lên lưng chim rồi cố lấy nhiều của quý. Đối chiếu những từ ấy giúp thấy sự khác nhau trong thái độ và lựa chọn. Điệp ngữ là lặp lại từ ngữ nhằm làm nổi bật một ý hoặc cảm xúc. Khi gặp từ ngữ được lặp, cần xem điều gì được nhấn mạnh trong câu, đoạn; không giải thích mọi trường hợp bằng một câu chung là làm lời văn hay hơn. Cùng từ mãi nhưng đặt trong những hành động khác nhau sẽ nhấn mạnh những ý khác nhau. Cần đọc cả hành động, sự việc trước–sau và kết quả để giải thích tác dụng.

Ví dụ: hai cách lặp, hai ý được nhấn mạnh

Trong Cây khế, cụm “bay mãi, bay mãi” xuất hiện khi chim chở người vượt qua nhiều miền. Lặp cụm từ làm nổi bật hành trình xa và kéo dài, góp phần gợi sự khác thường của chuyến đi đến đảo. Trong Thạch Sanh, cụm “ăn mãi, ăn mãi” xuất hiện khi quân chư hầu ăn cơm. Niêu cơm nhỏ mà ăn hết lại đầy; cách lặp nhấn mạnh việc ăn kéo dài vẫn không làm cơm cạn. Từ đó, làm rõ tính thần kì và nguồn thức ăn dồi dào. Hai cụm đều lặp hành động với mãi, nhưng tác dụng không giống hệt: một cụm nhấn hành trình, một cụm nhấn sức cung cấp không cạn. Với từ tót trong Cây khế, đặt cạnh việc người anh vội chuẩn bị và ham lấy vàng, có thể thấy động tác lên lưng chim nhanh, vội. Chỉ một từ chưa đủ để kết luận toàn bộ phẩm chất; kết hợp thêm những hành động lấy quá nhiều mới có căn cứ nhận xét lòng tham.

Củng cố kiến thức

Trong ngữ cảnh chim chở người qua nhiều miền, “bay mãi, bay mãi” nhấn mạnh điều gì?
Chọn một đáp án

Củng cố kiến thức

Trong cảnh quân chư hầu ăn từ niêu nhỏ, “ăn mãi, ăn mãi” cùng chi tiết cơm lại đầy làm rõ ý nào?
Chọn một đáp án