Không biến giả thuyết thành kết luận
Sinh vật trên Trái Đất được hình thành như thế nào? của Nguyễn Quang Riệu là văn bản thực hành đọc trong SGK, trích từ Bầu trời tuổi thơ xuất bản năm 2002. Khi đọc, xác định vấn đề chính, những cách giải thích được giới thiệu và từ cho biết mức độ chắc chắn của thông tin.
Bài nêu một số giả thuyết về nguồn gốc sự sống, giới thiệu thí nghiệm và đề cập vai trò của nước. Những cách nói như có giả thuyết khác, có thể, vẫn đang được bàn luận cho biết có điều chưa được khẳng định chắc chắn. Không bỏ những từ ấy khi tóm tắt.
**Giả thuyết** là cách giải thích được đưa ra để xem xét, kiểm chứng. Việc bài kể một thí nghiệm tạo được một chất không đồng nghĩa thí nghiệm đã tạo sinh vật sống hoặc giải đáp toàn bộ nguồn gốc sự sống. Cần đọc đúng kết quả, không tự thêm kết luận.
Ví dụ: tìm ý chính của ba đoạn
Có thể rút ba ý chính bằng lời riêng:
1. Đoạn đầu giới thiệu những cách giải thích nguồn gốc sự sống, kể kết quả thí nghiệm và cho biết vấn đề còn được bàn luận.
2. Đoạn tiếp theo làm rõ vai trò của nước và sự liên hệ trong đời sống sinh vật.
3. Đoạn cuối kể việc phát hiện sinh vật ở môi trường sâu dưới biển, gần những nguồn nước nóng, rồi nêu khả năng sự sống có thể khởi nguồn từ đó.
Ba ý cùng hướng tới nguồn gốc và điều kiện của sự sống. Ở ý cuối, cần giữ từ có thể: sự phát hiện được kể là căn cứ để xem xét một khả năng, không phải lời xác nhận chắc chắn nguồn gốc duy nhất.
Ví dụ: phân biệt kết quả và cách giải thích
Trong văn bản, thí nghiệm của Min-lơ (Miller) được giới thiệu với kết quả tạo được a-xít a-min. Bài cũng nêu một giả thuyết khác cho rằng bụi từ sao chổi và thiên thạch có thể đem mầm sống tới Trái Đất; vấn đề nguồn gốc sự sống vẫn còn được bàn luận.
Có thể tóm: “Văn bản giới thiệu kết quả một thí nghiệm và một số giả thuyết về nguồn gốc sự sống. Những giả thuyết ấy còn cần được xem xét, không phải tất cả đều là kết luận đã được xác nhận.”
Cách tóm giữ điều bài cung cấp. Nếu đổi thành “Thí nghiệm đã tạo sinh vật sống và chứng minh mọi giả thuyết đều đúng”, lời tóm thêm hai kết luận không được nêu. Hiểu mức độ khẳng định quan trọng không kém việc nhớ chi tiết.
Củng cố kiến thức
Theo phần thông tin đã phân tích, thí nghiệm của Min-lơ được kể là tạo được gì?
Ví dụ không nêu kết quả tạo sinh vật sống.
Đúng: đây là kết quả thí nghiệm được nêu.
Bài không kể thí nghiệm tạo toàn bộ các loài.
Bài vẫn phân biệt thí nghiệm với giả thuyết còn bàn luận.
Lời giải
Đáp án B. Ví dụ nêu kết quả tạo a-xít a-min, không phải tạo sinh vật sống hoặc chứng minh mọi giả thuyết. Lời tóm cần giữ đúng kết quả ấy. Không thể từ việc tạo được một chất tự thêm kết luận rằng thí nghiệm đã giải đáp toàn bộ nguồn gốc sự sống.
Củng cố kiến thức
Cách tóm nào giữ đúng mức độ chắc chắn của một giả thuyết được giới thiệu?
Câu đổi khả năng thành chắc chắn, thêm nghĩa duy nhất.
Được giới thiệu không đồng nghĩa đã được chứng minh.
Từ “có thể” giúp phân biệt khả năng với khẳng định chắc chắn.
Đúng: giữ việc đây là giả thuyết và sự chưa chắc chắn.
Lời giải
Đáp án D. Tóm ý phải giữ tính chất giả thuyết và khả năng được nêu. Bỏ “có thể” hoặc thêm “chắc chắn”, “duy nhất” làm mức độ khẳng định mạnh hơn bài. Giới thiệu một cách giải thích không đủ để xem đó là kết luận cuối cùng.