Hai bộ phận có quan hệ qua lại
Văn học Việt Nam gồm văn học dân gian và văn học viết. Văn học dân gian có những thể loại như thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn, truyện thơ dân gian, ca dao, tục ngữ. Văn học viết có tác giả và tác phẩm được lưu truyền chủ yếu bằng chữ viết. Hai bộ phận ảnh hưởng, bổ sung cho nhau, không tồn tại như hai kho hoàn toàn tách biệt.
Khung thời gian dưới đây theo sơ đồ ôn tập trong SGK, dùng để sắp xếp một số tác phẩm đã học:
| Văn học viết | Các khoảng thời gian trong khung ôn tập |
|---|---|
| Trung đại | Thế kỉ X–XIV; XV–XVII; XVIII–XIX |
| Hiện đại | Đầu thế kỉ XX–1945; 1945–1975; 1975–đầu thế kỉ XXI |
Khi điền tác phẩm, ghi kèm tác giả, thể loại và mốc có căn cứ. Với văn học trung đại, cần chú ý sáng tác bằng chữ Hán hay chữ Nôm. Bản dịch tiếng Việt đang đọc không làm thay đổi ngôn ngữ nguyên tác. Khung này không có nghĩa văn học ngừng phát triển ở đầu thế kỉ XXI.
Không dùng năm tái bản để xếp giai đoạn
Đối chiếu do BTVN biên soạn từ các văn bản đã học:
“Vội vàng” nằm trong tập “Thơ thơ” xuất bản năm 1938, thuộc văn học hiện đại trước năm 1945. Khi một SGK hoặc tuyển tập in lại bài thơ về sau, năm của bản in mới không chuyển sáng tác sang một giai đoạn khác.
Tương tự, cần phân biệt nguyên tác với bản dịch: “Nguyên tiêu” có nguyên tác chữ Hán; bản dịch thơ Xuân Thủy dùng thể lục bát. Không ghi nguyên tác là lục bát chỉ vì đang đọc bản dịch ấy.
Hai thao tác cùng cần kiểm thông tin trước khi phân loại: mốc liên quan đến sáng tác, xuất bản ban đầu khác mốc tái bản; đặc điểm nguyên tác khác đặc điểm bản dịch. Sau khi sắp xếp mới nhận xét sự phát triển, không suy từ một tác phẩm thành toàn bộ giai đoạn.
Củng cố kiến thức
Một tuyển tập mới in lại “Vội vàng”. Căn cứ nào phù hợp để xếp bài thơ theo khung trên?
Đúng: phân biệt mốc của tác phẩm với mốc bản in đang dùng.
Thời điểm in lại không xác định giai đoạn của tác phẩm.
Không lấy giai đoạn cuối đời thay mốc đã biết của bài thơ.
Bản dịch về sau không làm đổi mốc của nguyên tác.
Lời giải
Đáp án A. Năm 1938 gắn với tập thơ xuất bản lần đầu đã được nêu trong ví dụ. Năm tái bản chỉ cho biết bản sách đang sử dụng; không làm đổi vị trí của bài thơ trong văn học hiện đại trước năm 1945.
Củng cố kiến thức
Nhận xét nào giữ đúng quan hệ giữa nguyên tác và bản dịch “Nguyên tiêu”?
Bản dịch có thể đổi ngôn ngữ và hình thức thơ.
Không suy thể nguyên tác từ thể của bản dịch.
Đúng: giữ đúng hai lớp thông tin.
Phân biệt giúp không gán nhầm đặc điểm.
Lời giải
Đáp án C. Thông tin ngôn ngữ, thể thơ phải gắn với đúng văn bản. Bản dịch Xuân Thủy là lục bát, còn nguyên tác chữ Hán có hình thức riêng; ghi riêng giúp hệ thống chính xác.