Sắc xuân được mở rộng qua nhiều tầng không gian
“Nguyên tiêu” được Hồ Chí Minh sáng tác năm 1948 ở Việt Bắc, trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Nguyên tác chữ Hán gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ; bản dịch thơ của Xuân Thủy dùng thể lục bát. Khi nhận xét thể thơ hoặc từ ngữ, cần nói rõ đang nói bản nào.
Hai câu đầu gợi đêm rằm tháng Giêng, trăng đúng độ tròn. Trong nguyên tác, từ chỉ mùa xuân lặp ở sông, nước, trời. Không gian được mở từ mặt nước đến bầu trời, các phần nối nhau trong một sức sống rộng lớn.
Lặp từ không chỉ là một dấu hiệu để gọi tên biện pháp. Cần thấy nó khiến sắc xuân như lan khắp cảnh. Bài thơ dùng ít nét gợi mà tạo không gian khoáng đạt; ánh trăng và mùa xuân đi cùng cảm giác tươi sáng, không phải một bản ghi chép thời tiết.
Từ ba vị trí của sắc xuân đến hiệu quả hình ảnh
Phân tích do BTVN biên soạn theo nguyên tác và bản dịch trong SGK:
Ở nguyên tác, từ “xuân” đi cùng sông, nước và trời. Những hình ảnh ấy không tách thành ba bức tranh rời mà nối tiếp nhau, mở rộng tầm nhìn. Sự lặp làm sắc xuân hiện diện ở nhiều tầng của cảnh.
Bản dịch lục bát giữ sự nối tiếp sông, nước, trời, đồng thời có nhịp điệu khác nguyên tác thất ngôn tứ tuyệt. Khi viết nhận xét, có thể nêu hình ảnh được giữ rồi nói rõ hình thức đã đổi; không gọi bản dịch là bốn câu bảy chữ.
Từ những căn cứ ấy, nhận xét cảnh vừa rộng vừa đầy sức sống sẽ cụ thể hơn lời khen chung rằng thiên nhiên rất đẹp.
Củng cố kiến thức
Lặp từ chỉ xuân trong nguyên tác được ví dụ giải thích ra sao?
Các hình ảnh có quan hệ nối tiếp.
Từ được lặp ở nhiều hình ảnh.
Cần giải thích hiệu quả chứ không dừng ở đếm.
Đúng: nối lặp từ với sự mở rộng, thống nhất của cảnh.
Lời giải
Đáp án D. Sắc xuân gắn với nhiều thành phần nối nhau của cảnh. Vì thế, sự lặp gợi sức sống phủ rộng, không phải ba vật được liệt kê mà không liên hệ.
Củng cố kiến thức
Câu nào phân biệt đúng hình thức hai bản?
Nguyên tác có bốn câu bảy chữ.
Đúng: cần xác định rõ bản đang được nhận xét.
Hai hình thức đã bị đổi chỗ.
Bản dịch dùng các câu sáu, tám tiếng.
Lời giải
Đáp án B. Nguyên tác gồm bốn câu bảy chữ, còn bản dịch dùng các câu sáu, tám tiếng. Phân biệt này giúp tránh lấy nhịp hoặc số tiếng của bản dịch làm đặc điểm nguyên tác.