Hai thời điểm trong một lời kể
“Và tôi vẫn muốn mẹ…” trích Những nhân chứng cuối cùng – Solo cho giọng trẻ em của Svetlana Alexievich, Phan Xuân Loan dịch. Nhân chứng Din-na Cô-si-ắc kể về chiến tranh khi còn nhỏ; ở thời điểm kể, bà đã năm mươi mốt tuổi và có hai con.
Lời kể vừa giữ những điều trẻ nhỏ từng biết, từng lầm tưởng, vừa có nhận thức khi nhìn lại. Cần phân biệt hai thời điểm: việc trẻ nghĩ lúc ấy không tự là sự thật đã xảy ra; lời biết thêm về sau cũng không phải điều trẻ hiểu ngay.
Những chặng sơ tán, thiếu thốn và chờ tìm mẹ nối thành điểm nhấn về mất mát. Câu kết hướng về nhu cầu tình cảm chưa nguôi, không báo rằng nhân vật đã tìm lại mẹ.
Từ hiểu lầm ban đầu tới lời cuối
Phân tích do BTVN biên soạn theo SGK:
Ban đầu, trẻ thấy máy bay lạ và reo, chưa hiểu hiểm nguy; khi bom rơi, nhận thức thay đổi. Trên đường và trong nơi sơ tán, các em thiếu cả vật chất lẫn sự gần gũi ba mẹ. Khi nhắc tới mẹ, những đứa nhỏ bật khóc; nhân vật tìm, hỏi và chờ mẹ qua nhiều chặng.
Sau chiến tranh, nhân vật nghĩ những chuyến tàu sẽ đưa mình về nơi mẹ chờ. Lời kể đồng thời cho biết đó là nhận thức trẻ thơ; về sau mới biết ba mẹ đã mất tích trong một trận bom. Không nhập điều mong với điều đã xảy ra.
Ở cuối, khoảng cách từ tuổi thơ tới năm mươi mốt tuổi đặt bên mong muốn có mẹ. Thời gian và việc có con không tự lấp được thiếu vắng. Nối các chi tiết ấy, có thể hiểu sức đau đớn dai dẳng của chiến tranh mà không chẩn đoán bệnh hoặc buộc mọi người đọc xúc động giống nhau.
Củng cố kiến thức
Vì sao cần phân biệt mong muốn các chuyến tàu đưa về nơi mẹ chờ với thông tin biết về sau?
Đúng: phân biệt suy nghĩ và sự kiện, hai thời điểm nhận thức.
Cách trẻ cảm nhận là một phần quan trọng của lời kể.
Tác giả tạo lập văn bản từ lời nhân chứng, không đồng nhất hai người.
Các chặng trước giúp hiểu mong muốn ở cuối.
Lời giải
Đáp án A. Nhận lời kể đã đánh dấu đó là nhận thức trẻ thơ. Đối chiếu thông tin về sau, thấy mong có mẹ chờ không báo đã gặp mẹ. Phân biệt thời điểm trải qua và hồi tưởng giúp giữ đúng diễn biến, đồng thời làm rõ mất mát và niềm mong.
Củng cố kiến thức
Quan hệ tuổi năm mươi mốt, việc có hai con và mong mẹ ở cuối làm rõ điều gì?
Lời vẫn mong mẹ cho thấy sự thiếu vắng chưa nguôi.
Câu kết nói nhu cầu tình cảm, không một hành trình tới trại hè.
Đúng: đặt lời cuối trong toàn mạch mới thấy điểm nhấn.
Hai con chỉ được nêu trong lời nhân chứng ở cuối.
Lời giải
Đáp án C. Trước hết nhận thời gian đã kéo dài và nhân vật có đời sống gia đình riêng. Nhưng mong mẹ còn tồn tại, nối với những chặng chờ, hỏi, tìm lúc nhỏ. Sự đặt cạnh nhau làm rõ mất mát dai dẳng; không tự suy rằng trưởng thành là hết đau hoặc thêm một hành trình đoạn chưa kể.