Một nhận xét khái quát cần nhiều căn cứ cụ thể
Để hiểu nhận xét rối nước mang đậm dấu ấn văn hoá Việt, cần đọc những thông tin làm căn cứ: môi trường làng quê đồng bằng Bắc Bộ, sinh hoạt hội làng, sân khấu mặt nước, vật liệu và cách tạo hình con rối. Chỉ nhắc tên nghệ thuật chưa giải thích được nhận xét.
Theo văn bản Phạm Thuỳ Dung, con rối được đẽo gọt từ gỗ sung nhẹ, nổi được; phần thân trên nổi trên mặt nước, phần dưới có đế giữ thăng bằng và lắp bộ điều khiển. Người diễn sau bức mành dùng sào kết hợp dây. Cử động cần phối hợp với lời thoại, âm nhạc và những yếu tố hỗ trợ khác.
Những thông tin ấy vừa giúp hình dung cách một tiết mục vận hành vừa cho thấy vật liệu, không gian quen thuộc được biến thành nghệ thuật. Khi phân tích, cần giải thích quan hệ giữa đặc điểm và ý nghĩa, không chép một danh sách rồi bỏ nhận xét đứng riêng.
Mặt nước không chỉ là phông cảnh
Phân tích BTVN theo SGK tr. 137–138.
Mặt nước là nơi con rối xuất hiện và cử động; phần dưới của rối cùng bộ điều khiển được giấu phía dưới, còn người điều khiển đứng sau bức mành. Nhờ cách tổ chức đó, khán giả thấy những hình nhân gỗ hoạt động, không thấy đầy đủ thao tác của người diễn. Đây là một quan hệ giữa sân khấu và kĩ thuật, không chỉ vẻ đẹp phong cảnh.
Gỗ sung nhẹ, nổi được là thông tin được nêu cùng việc chế tác. Nó giúp hiểu sự lựa chọn vật liệu phù hợp với môi trường nước. Để con rối biểu hiện được nhân vật, nghệ nhân còn phải tạo hình và điều khiển nhịp nhàng cùng lời, nhạc; không thể quy toàn bộ thành công chỉ cho vật liệu.
Kết hợp các chi tiết này với bối cảnh ao làng, hội làng, có thể hiểu nhận xét về dấu ấn đời sống nông thôn. Văn bản làm rõ một quá trình biến những yếu tố gần gũi thành nghệ thuật biểu diễn đặc sắc.
Củng cố kiến thức
Thông tin phần dưới con rối có đế và bộ điều khiển giúp làm rõ điều gì?
Đúng: chi tiết cấu tạo liên hệ với hoạt động.
Bài nhấn mạnh kĩ năng điều khiển thuần thục.
Phần thân trên nổi, phần dưới chìm trong nước.
Mặt nước gắn trực tiếp cách biểu diễn.
Lời giải
Đáp án A. Đế và bộ điều khiển thuộc phần dưới, giúp giữ và điều khiển con rối; thân trên xuất hiện trước khán giả. Cấu tạo ấy phải đọc cùng môi trường biểu diễn và thao tác của người diễn. Nó không chứng minh nghệ nhân có thể bỏ kĩ năng phối hợp.
Củng cố kiến thức
Nhóm căn cứ nào hỗ trợ rõ nhất nhận xét rối nước gắn với đời sống làng quê Việt Nam?
Chi tiết thiên về thay đổi cách thưởng thức, chưa đủ làm rõ dấu ấn làng quê.
Sự phối hợp phương tiện chưa trực tiếp chỉ ra môi trường văn hoá làng quê.
Quy mô hoạt động không tự giải thích nguồn gốc và dấu ấn văn hoá.
Đúng: các chi tiết liên hệ trực tiếp với môi trường sống và sáng tạo.
Lời giải
Đáp án D. Hội làng và ao nước cho thấy môi trường sinh hoạt; vật liệu, tạo hình và điều khiển cho thấy cách con người biến điều quen thuộc thành nghệ thuật. Những căn cứ ấy cùng hỗ trợ nhận xét về dấu ấn văn hoá. Thay đổi nơi diễn, sự phối hợp ánh sáng hoặc quy mô hoạt động nói về những phương diện khác, chưa làm rõ nhận xét bằng nhóm chi tiết này.