Người trong cuộc không biết hết người khác
Một chuyện đùa nho nhỏ của An-tôn Sê-khốp được kể bởi nhân vật “tôi”, một trong hai người tham gia chính. Cần phân biệt “tôi” khi trượt tuyết và “tôi” đã đứng tuổi kể lại. Ngôi kể vẫn là thứ nhất, nhưng khoảng cách thời gian làm xuất hiện sự nhìn lại, tự hỏi và trăn trở.
Người kể thuật hành động, biểu hiện và suy đoán cảm xúc Na-đi-a từ góc của mình. Cần đối chiếu lời đoán với điều nàng thực sự làm, chú ý các từ biểu thị phỏng đoán và phần giới hạn người kể thừa nhận. Không coi mọi suy nghĩ được thuật qua nhân vật “tôi” là hiểu biết chính xác tuyệt đối về người khác.
Phân tích cảm hứng cần theo toàn mạch: rung động, trò đùa, cảnh chia xa và lời tự hỏi cuối. Nhan đề gọi nhỏ nhưng ý nghĩa với mỗi người có thể không nhỏ. Có thể bàn sự trân trọng tình cảm và cơ hội bị bỏ lỡ từ chi tiết, không gán một lời kết tội duy nhất cho mọi cách đọc.
Ví dụ đối chiếu suy đoán với hành động
Phân tích BTVN theo bản Phan Hồng Giang dịch, đã chỉnh một số câu và nhan đề như SGK; bản truyện theo lần tác giả chỉnh lí năm 1899.
Nhân vật “tôi” lặp lời yêu thương đúng lúc gió và xe trượt ồn, khiến Na-đi-a băn khoăn lời ấy từ anh hay từ gió. Có lúc người kể cho rằng nghe từ ai cũng như nhau với nàng. Nhưng Na-đi-a bất chấp sợ hãi để trượt một mình, mong kiểm tra có nghe được lời ấy khi anh không bên cạnh. Hành động cho thấy nàng muốn biết, nên lời đoán của “tôi” không bao quát hết khát vọng của nàng.
Ở cảnh mùa xuân, hàng rào ngăn hai khu vườn gợi sự cách trở; người kể lại gửi lời qua gió, thấy nàng hạnh phúc, rồi quay về xếp đồ. Một khoảnh khắc giao cảm chưa trở thành lựa chọn gắn bó. Nhiều năm sau, lời tự hỏi về cách đã đùa tạo khoảng cách suy tư với những hành động lúc trước.
Khi đọc, giữ đúng bản đang học: không đưa kết thúc của lần in trước vào để giải thích rằng bản 1899 đã kể một cuộc hôn nhân giữa hai nhân vật.
Củng cố kiến thức
Chi tiết Na-đi-a trượt một mình giúp đánh giá lời đoán của người kể ra sao?
Đúng: dùng hành động làm căn cứ kiểm giới hạn cách hiểu.
Nàng vẫn sợ, nhưng muốn tìm câu trả lời.
Ngôi kể của nhân vật tôi không đổi.
Đối chiếu này giúp tránh tin mọi lời đoán.
Lời giải
Đáp án A. Trước hết nhận ra lời người kể đang suy đoán rằng nguồn lời nói không quan trọng. Sau đó đối chiếu với việc nàng vượt sợ hãi để thử khi không có anh. Hành động cho thấy nàng có nhu cầu biết sự thật, làm lộ giới hạn đồng cảm và hiểu biết của người kể lúc ấy.
Củng cố kiến thức
Khi phần cuối chuyển từ lúc trượt tuyết sang nhiều năm sau, điều gì thay đổi rõ?
Vẫn là nhân vật tôi kể.
Sự việc trở thành đối tượng hồi tưởng.
Hồi tưởng không tạo hiểu biết tuyệt đối.
Đúng: thời điểm nhìn lại thay đổi, không phải ngôi kể.
Lời giải
Đáp án D. Dấu hiệu nhiều năm đã qua và người kể đã đứng tuổi xác định thời điểm kể lại. Những hành động được nhìn bằng một khoảng cách mới, với lời tự hỏi. Phân tích cần nhận ra sự dịch chuyển này để hiểu giọng suy tư, không chỉ lặp lại định nghĩa ngôi thứ nhất.