Dòng điện có thể làm lệch kim la bàn
Một kim la bàn đang nằm theo hướng Bắc–Nam sẽ lệch đi khi đặt gần nam châm. Kim cũng lệch khi đặt gần một dây dẫn có dòng điện, và đổi chiều lệch khi dòng điện đổi chiều. Những quan sát này cho thấy nam châm và dòng điện đều gây ra tương tác từ trong không gian xung quanh.
Từ tương tác từ đến khái niệm từ trường
Tương tác giữa hai nam châm, giữa dòng điện với nam châm hoặc giữa hai dòng điện đều là tương tác từ. Lực xuất hiện trong các tương tác đó gọi là lực từ.
Ta nói xung quanh nam châm và dòng điện có **từ trường**. Tính chất cơ bản của từ trường là gây lực từ lên nam châm, dòng điện hoặc hạt mang điện chuyển động đặt trong nó. Vì vậy, có thể dùng một kim nam châm nhỏ để phát hiện từ trường.
Tại mỗi điểm, vectơ cảm ứng từ $\vec B$ đặc trưng cho từ trường. Phương của $\vec B$ là phương của kim nam châm thử khi cân bằng; chiều được quy ước từ cực Nam đến cực Bắc của kim thử. Từ trường đều là từ trường có $\vec B$ như nhau tại mọi điểm trong vùng đang xét.
Từ phổ giúp nhìn thấy hình dạng của từ trường
Khi rắc mạt sắt quanh nam châm hoặc dây có dòng điện, các mạt sắt nhỏ bị từ hóa và sắp xếp theo những đường xác định. Hình ảnh đó gọi là **từ phổ**. Từ phổ gợi ra cách biểu diễn từ trường bằng đường sức từ.
Đường sức từ được vẽ sao cho tiếp tuyến tại mỗi điểm trùng với phương của $\vec B$; chiều của đường sức là chiều của $\vec B$. Một số đặc điểm cần nhớ:
- Qua mỗi điểm có từ trường chỉ vẽ được một đường sức, nên các đường sức không cắt nhau.
- Đường sức từ là những đường cong khép kín. Bên ngoài thanh nam châm, chúng đi từ cực Bắc N đến cực Nam S.
- Nơi đường sức được vẽ dày hơn biểu diễn từ trường mạnh hơn. Số đường trên hình chỉ là quy ước biểu diễn.
- Từ trường đều được biểu diễn bằng các đường thẳng song song, cùng chiều và cách đều.
Dùng bàn tay phải để xác định chiều đường sức
Với dòng điện thẳng, các đường sức là những đường tròn nằm trong mặt phẳng vuông góc với dây. Đặt ngón cái bàn tay phải theo chiều dòng điện; chiều khum của bốn ngón còn lại là chiều đường sức từ.
Với dòng điện tròn hoặc ống dây, khum bốn ngón tay phải theo chiều dòng điện qua các vòng dây; ngón cái choãi ra chỉ chiều đường sức trong lòng vòng dây hoặc ống dây.
Trên hình phẳng, kí hiệu $\odot$ chỉ vectơ hướng ra khỏi trang, còn $\otimes$ chỉ vectơ hướng vào trang. Nên đọc các kí hiệu này trước khi dùng quy tắc bàn tay.
Đọc chiều từ trường quanh một dây thẳng
Nhìn thẳng vào đầu dây có dòng điện đi ra khỏi trang, kí hiệu $\odot$. Đặt ngón cái bàn tay phải hướng về phía người quan sát. Bốn ngón còn lại khum theo chiều ngược kim đồng hồ, nên đó là chiều đường sức quanh dây.
Nếu đảo dòng điện thành hướng vào trang, kí hiệu $\otimes$, chiều đường sức đổi thành chiều kim đồng hồ. Hình dạng các đường tròn không đổi; chỉ chiều của chúng đổi.
Áp dụng
Đường sức bên ngoài thanh nam châm có chiều
Đây không phải chiều ngoài nam châm.
Đúng với đoạn đường sức ở ngoài nam châm.
Chiều đường sức được quy ước theo hướng từ trường; kim la bàn chỉ giúp nhận biết hướng đó.
Tại mỗi điểm, chiều từ trường không phụ thuộc vào vật dùng để thử.
Lời giải
Ngoài nam châm, chiều quy ước đi từ cực N đến cực S.
Áp dụng
Tại điểm P có $B\ne0$, hai đường sức từ có thể cắt nhau ở P không?
Đường sức có thể cong; lí do đúng là hướng $\vec B$ tại P xác định duy nhất.
Đúng. Mỗi đường sức tiếp tuyến với hướng của vectơ cảm ứng từ tại P.
Một từ trường tại P không thể đồng thời có hai hướng khác nhau.
Độ lớn bằng nhau không cho phép hai hướng khác nhau tại cùng P.
Lời giải
Đường sức có tiếp tuyến theo hướng $\vec B$. Nếu hai đường cắt ở P khi $B\ne0$, P sẽ có hai hướng $\vec B$, điều không thể. Chọn B.
Những điều cần nhớ
Từ trường tồn tại quanh nam châm và dòng điện, được nhận biết qua lực từ. Đường sức cho biết phương, chiều và mức độ mạnh yếu tương đối của từ trường. Khi đọc hình, xác định nguồn từ trường, chiều $\vec B$ và kí hiệu ra/vào trang trước.
Đang học