Những lực nào đang tác dụng lên vật?
Khi kéo một hộp trên sàn, có trọng lực, lực đỡ, lực kéo và ma sát. Tên từng lực phải gắn với vật gây ra nó.
Nhận diện lực từ vật gây ra tương tác
Quan sát hình cùng phần giải thích bên dưới.
Muốn gọi đúng tên lực, trước hết xác định vật nào đang tác dụng lên vật xét. Trái Đất gây ra trọng lực; dây bị kéo căng gây ra lực căng; bề mặt tiếp xúc gây ra phản lực và có thể gây lực ma sát; không khí hoặc nước gây ra lực cản và lực nâng.
Mỗi lực cần được mô tả bằng điểm đặt, phương, chiều và độ lớn. Không vẽ thêm một lực chỉ vì vật đang chuyển động. Sau khi nhận diện đủ lực, mới dùng định luật II Newton hoặc điều kiện cân bằng.
Trọng lượng, trọng tâm và lực căng
Khối lượng m đo bằng kg, trọng lượng P đo bằng N. Khi đưa vật đến nơi có g khác, m giữ nguyên còn P = mg có thể thay đổi. Trọng lực được coi đặt tại trọng tâm. Với tấm mỏng, treo tự do lần lượt từ hai điểm; hai đường thẳng đứng qua điểm treo giúp xác định trọng tâm bằng giao điểm.
Lực căng của dây mềm hướng dọc dây, kéo vật về phía dây. Vật treo đứng yên chỉ chịu trọng lực và lực căng thì T = mg. Nếu vật có gia tốc đứng, hai lực không còn cân bằng: chọn chiều lên dương được T − mg = ma. Dây nhẹ, không dãn qua ròng rọc lí tưởng cho phép dùng cùng độ lớn lực căng ở hai phía; phải có giả thiết ấy khi áp dụng.
Từ ma sát nghỉ đến ma sát trượt
Khi đẩy nhẹ một thùng mà thùng chưa chuyển động, ma sát nghỉ tự điều chỉnh để giữ các điểm tiếp xúc không trượt. Độ lớn của nó tăng theo lực đẩy cho đến một giá trị giới hạn; vì vậy không được mặc định ma sát nghỉ luôn bằng $\mu N$.
Khi vật đã trượt, lực ma sát trượt hướng chống lại chuyển động trượt tương đối. Trong mô hình phổ thông:
$$F_{mst}=\mu_tN.$$
Hệ số $\mu_t$ phụ thuộc vật liệu và tình trạng bề mặt. Phản lực $N$ phải được tìm từ phương trình theo phương vuông góc mặt tiếp xúc, không phải lúc nào cũng bằng $mg$.
Ví dụ: xác định lực ma sát rồi viết định luật II
Hộp 5 kg trượt trên sàn ngang, bị kéo ngang, g = 10 m/s², μ = 0,2. Theo phương đứng a = 0 nên N = mg = 50 N. Ma sát trượt là 10 N, ngược chuyển động trượt. Nếu kéo xiên lên, phải tính lại N, không giữ nguyên 50 N.
Áp dụng
Vật đứng yên trên sàn, chịu lực kéo ngang 3 N và chưa trượt. Ma sát nghỉ cân bằng lực kéo có độ lớn
Nếu không có ma sát, hộp sẽ có hợp lực ngang.
Đúng: ma sát nghỉ điều chỉnh để cân bằng.
μmg thường là giá trị giới hạn trong mô hình, không phải mọi giá trị.
Hợp lực ngang phải bằng 0.
Lời giải
Đứng yên theo phương ngang nên ma sát nghỉ có độ lớn 3 N, hướng ngược lực kéo trong tình huống này.
Ma sát nghỉ, ma sát trượt và phép đo
Ma sát nghỉ ngăn trượt tương đối ở chỗ tiếp xúc và có thể bằng 0 nếu không cần giữ vật. Khi đã trượt, $F_{mst}=\mu_tN$ là mô hình gần đúng; μₜ không có đơn vị, phụ thuộc vật liệu và tình trạng mặt tiếp xúc. Trong mô hình này, độ lớn ma sát trượt không phụ thuộc diện tích tiếp xúc biểu kiến.
Để đo ma sát trượt bằng lực kế, kéo ngang cho vật trượt **đều** trên sàn ngang. Khi gia tốc ngang bằng 0, lực kéo cân bằng ma sát. Nếu vật tăng tốc, số chỉ lực kế không còn chỉ riêng độ lớn ma sát.
Ví dụ khối 2 kg trượt đều, lực kế chỉ 4 N, g = 10 m/s². Vì không có lực khác theo phương đứng, N = 20 N, nên μₜ = 4/20 = 0,20. Giữ cùng vật, tốc độ và cách kéo khi muốn so các bề mặt; đo lặp để thấy độ phân tán.
Áp dụng
Một vật rơi thẳng đứng đã đạt tốc độ giới hạn. Nhận xét nào đúng về gia tốc và trọng lực tác dụng lên vật?
Đúng. Các lực hướng lên cân bằng trọng lực trong mô hình tốc độ giới hạn.
Tốc độ không đổi nên gia tốc bằng $0$, dù trọng lực vẫn còn.
Trọng lực không biến mất; lực cản môi trường và lực đẩy nổi nếu xét cân bằng nó.
Gia tốc bằng $0$ khi tốc độ đã ổn định, không phải cứ đi xuống thì gia tốc hướng lên.
Lời giải
Tốc độ giới hạn nghĩa là vận tốc không đổi, nên $a=0$ và hợp lực bằng $0$. Trọng lực vẫn hướng xuống; lực cản môi trường và lực đẩy nổi nếu xét hướng lên cân bằng nó. Chọn A.
Lực cản và lực nâng: phân biệt cách dùng
Lực cản chống chuyển động tương đối với chất lưu; độ lớn phụ thuộc tốc độ, hình dạng vật và môi trường. Lực nâng có thể giúp máy bay giữ độ cao hoặc vật nổi trong nước. Không dùng công thức lực đẩy nổi để tính mọi lực nâng khí động.
Nhắc lại Archimedes ở THCS: $F_A=\rho gV$, với ρ là khối lượng riêng **chất lưu**, V là thể tích phần chất lưu bị vật chiếm chỗ, không nhất thiết là toàn thể tích vật. Ví dụ phần vật chìm trong nước chiếm 200 cm³ = 0,0002 m³, ρ = 1 000 kg/m³, g = 10 m/s² thì F_A = 2 N.
Một vật rơi đều theo phương đứng, chỉ chịu trọng lực 10 N, lực đẩy nổi 2 N và lực cản hướng lên, sẽ có lực cản 8 N. Hợp lực bằng 0 nên a = 0; vẫn có trọng lực nhưng không còn là rơi tự do. Bài này dùng cân bằng lực, chưa cần tính áp suất chất lỏng.
Những điều cần nhớ
Gọi tên lực theo vật gây ra nó. Trọng lực và lực căng được xét trước; ma sát nghỉ khác ma sát trượt; lực cản và lực nâng xuất hiện khi vật chuyển động trong chất lưu. Phản lực $N$ phải được tìm từ phương trình lực, không gán luôn bằng $mg$.
Đang học