Vì sao chuyển động tròn đều vẫn có gia tốc?
Xe đi qua khúc cua cần thay đổi hướng vận tốc. Vì vậy xe có gia tốc ngay cả khi đồng hồ tốc độ giữ nguyên.
Lực hướng tâm
Muốn một vật liên tục đổi hướng để chuyển động tròn đều, vật phải chịu một lực hoặc hợp lực hướng vào tâm quỹ đạo. Lực hoặc hợp lực có vai trò đó được gọi là lực hướng tâm.
“Lực hướng tâm” không phải một lực mới cần vẽ thêm bên cạnh các lực thực tế. Tùy tình huống, vai trò hướng tâm có thể do lực căng dây, lực hấp dẫn, lực ma sát hoặc hợp lực của nhiều lực đảm nhiệm. Ví dụ trên đường cua nằm ngang, ma sát nghỉ giữa lốp xe và mặt đường cung cấp hợp lực hướng tâm.
Nếu lực giữ đột ngột mất đi và bỏ qua các lực khác trong mặt phẳng chuyển động, vật tiếp tục chuyển động theo tiếp tuyến tại vị trí đó, không bay theo phương bán kính.
Gia tốc hướng tâm
Trong chuyển động tròn đều, tốc độ giữ nguyên nhưng vectơ vận tốc đổi hướng liên tục, vì vậy vật vẫn có gia tốc. Gia tốc này hướng vào tâm quỹ đạo, vuông góc với vận tốc và có độ lớn:
$$a_{ht}=\frac{v^2}{r}=\omega^2r.$$
Theo định luật II Newton, độ lớn hợp lực hướng tâm là:
$$F_{ht}=ma_{ht}=\frac{mv^2}{r}=m\omega^2r.$$
Cùng bán kính $r$, tốc độ tăng gấp đôi thì gia tốc và hợp lực hướng tâm cần thiết tăng gấp bốn. Khi so hai chuyển động phải đọc rõ đại lượng nào được giữ không đổi: giữ $v$ thì $a_{ht}$ giảm khi $r$ tăng; giữ $\omega$ thì $a_{ht}$ tăng theo $r$.
Ví dụ: tìm hợp lực giữ vật chuyển động tròn
Vật m = 0,5 kg quay đều với v = 4 m/s trên đường tròn r = 2 m. a = 16/2 = 8 m/s², hợp lực hướng tâm 4 N. Nếu trong mặt phẳng ngang chỉ lực căng cung cấp thành phần hướng tâm thì lực căng ngang bằng 4 N.
Áp dụng
Giữ r, tăng v gấp đôi thì gia tốc hướng tâm
Gia tốc phụ thuộc v².
Tốc độ tăng làm a tăng.
Đúng: bình phương tỉ số tốc độ.
a phụ thuộc tốc độ.
Lời giải
a = v²/r nên v nhân 2 làm a nhân 4.
Áp dụng
Xe chuyển động tròn đều trên đoạn đường cua nằm ngang. Mô hình chỉ xét trọng lực, phản lực của đường và ma sát nghỉ. Khi vẽ sơ đồ lực tác dụng lên xe, nhận xét nào đúng?
Sơ đồ phải gồm các lực thật tác dụng lên xe.
Đúng. “Lực hướng tâm” là vai trò của hợp lực, không phải lực thứ tư.
Như vậy đã đếm lực hai lần; ma sát nghỉ có vai trò hướng tâm.
Cần lực ngang để xe đổi hướng; trong mô hình này đó là ma sát nghỉ.
Lời giải
Theo phương đứng, trọng lực và phản lực cân bằng. Theo phương ngang, ma sát nghỉ hướng vào tâm cua và tạo hợp lực hướng tâm. Không thêm một lực “hướng tâm” độc lập vào sơ đồ. Chọn B.
Ví dụ: xe vào cua trên đường ngang
Xe vào cua bán kính r = 20 m. Trong mô hình đường ngang, N = mg và ma sát nghỉ cung cấp hợp lực hướng tâm. Đề cho ma sát nghỉ cực đại bằng 0,50N, g = 10 m/s². Muốn giữ quỹ đạo cần:
$$\frac{mv^2}{r}\leq0,50mg.$$
Suy ra v ≤ √(0,50 × 10 × 20) = 10 m/s. Đây là giới hạn của mô hình lí tưởng theo dữ kiện, không phải hướng dẫn tốc độ lái xe thực tế. Trên đường nghiêng, phản lực có thành phần hướng tâm; phải vẽ lại lực, không giữ nguyên phương trình mặt đường ngang.
Ví dụ: dây quét thành mặt nón
Vật treo bằng dây nhẹ không dãn dài l quay đều trên đường tròn ngang; dây lệch góc α so với phương đứng. Bán kính quỹ đạo r = l sin α. Kí hiệu T_d là độ lớn lực căng dây để phân biệt với chu kì T.
Theo phương đứng không có gia tốc: $T_d\cos\alpha=mg$. Theo phương ngang hướng tâm: $T_d\sin\alpha=m\omega^2r$. Thay r = l sin α, với 0° < α < 90°, suy ra:
$$\omega^2=\frac{g}{l\cos\alpha}.$$
Ví dụ l = 0,80 m, α = 60°, g = 10 m/s² thì ω² = 25 s⁻², ω = 5 rad/s. Tần số f = 5/(2π) ≈ 0,796 Hz. Không lấy l = r: dây là cạnh nghiêng, bán kính chỉ là hình chiếu ngang.
Khi vật chạy trên đường tròn nhưng tốc độ thay đổi
Công thức $a_{ht}=v^2/r$ vẫn cho thành phần gia tốc hướng tâm tại thời điểm đang xét. Nếu tốc độ tăng hoặc giảm, còn có thành phần gia tốc tiếp tuyến $a_t$, vuông góc với thành phần hướng tâm. Khi đề cho $a_t$, dùng định lí Pythagore:
$$a=\sqrt{a_{ht}^2+a_t^2}.$$
Ví dụ xe chạy trên cung bán kính 20 m, tại thời điểm v = 10 m/s và gia tốc tiếp tuyến có độ lớn 2 m/s² thì a_ht = 5 m/s², gia tốc toàn phần √29 ≈ 5,39 m/s². Không lấy ma_ht làm độ lớn hợp lực toàn phần trong trường hợp này.
Với chuyển động trên vòng tròn đứng, tốc độ thường thay đổi theo độ cao. Ta tìm tốc độ bằng quan hệ năng lượng đã học nếu đủ điều kiện, rồi xét hợp lực theo phương hướng vào tâm tại vị trí ấy. Chẳng hạn tại điểm cao nhất, nếu cả trọng lực và lực căng dây đều hướng xuống, mg + T_d = mv²/r. Tại điểm thấp nhất, hướng vào tâm là hướng lên nên T_d − mg = mv²/r. Lực căng không thể âm; kết quả âm báo rằng giả thiết dây vẫn căng không còn phù hợp. Đây là ứng dụng kết hợp các kiến thức đã học, không phải chuyển động tròn đều.
Những điều cần nhớ
Tìm lực thật cung cấp gia tốc hướng tâm. Kiểm sự phụ thuộc bình phương tốc độ khi xét khúc cua.
Đang học