btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Miền Bắc 1961–1965 và vai trò hậu phương

Lưu trên thiết bị này
Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 · Chọn bài khác

Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất

Đại hội III của Đảng Lao động Việt Nam tháng 9-1960 đề ra nhiệm vụ cho giai đoạn mới. Miền Bắc thực hiện **kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961–1965**, nhằm bước đầu xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội. Trong nông nghiệp, Nhà nước ưu tiên xây dựng nông trường, lâm trường quốc doanh; hợp tác xã phát triển. Nhiều nơi đạt năng suất 5 tấn thóc trên một héc-ta. “Nhiều nơi” không có nghĩa toàn bộ miền Bắc đều đạt cùng năng suất. Công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ được đầu tư; công nghiệp quốc doanh chiếm 93,1% tổng giá trị sản lượng công nghiệp miền Bắc theo SGK. Thương nghiệp quốc doanh mở rộng, góp phần ổn định đời sống. Chỉ tiêu 93,1% nói về **giá trị sản lượng công nghiệp**, không phải tỉ lệ dân số hay toàn bộ nền kinh tế.

Bài luyện

Mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1961–1965 là gì?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Số liệu 93,1% trong bài phản ánh điều gì?
Chọn một đáp án

Mở rộng giao thông và các tuyến chi viện

Đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển được xây dựng, hoàn thiện để phục vụ giao lưu kinh tế và chi viện cho miền Nam. Hệ thống vận chuyển nối hậu phương với chiến trường, giúp đưa người và hàng đến nơi cần. Từ năm **1959**, tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn trên bộ được mở. Trong quá trình kháng chiến, các tuyến trên bộ và trên biển hình thành, phát triển, giữ vai trò quan trọng trong vận chuyển Bắc – Nam. Khi trình bày cần giữ từng tuyến và thời kì, không tự gán mọi tuyến cùng một ngày thành lập. Miền Bắc đào tạo, huấn luyện cán bộ quân sự, chính trị, giáo dục, y tế và lực lượng vũ trang vào miền Nam. Họ tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng vùng giải phóng; chi viện vì thế có cả con người, chuyên môn và vật chất.

Bài luyện

Hình thức nào thể hiện sự chi viện của hậu phương miền Bắc?
Chọn một đáp án

Chứng minh vai trò hậu phương bằng số liệu

Trong 5 năm 1961–1965, một khối lượng lớn lương thực, vũ khí, đạn dược, thuốc men được chuyển vào miền Nam. Riêng **1961–1963**, khoảng **4 vạn cán bộ, chiến sĩ** được bổ sung cho chiến trường theo SGK. Bốn vạn tương đương khoảng 40 000 người. Cần giữ khoảng thời gian ba năm 1961–1963; không ghi thành 40 000 người trong mỗi năm hoặc gán toàn bộ cho một trận đánh. Hình 16.4 trang 82 SGK về phong trào “Ba sẵn sàng” của thanh niên miền Bắc năm 1964 cho thấy tinh thần sẵn sàng đóng góp. Kết hợp hình, số liệu và các tuyến vận chuyển giúp giải thích vì sao miền Bắc là hậu phương lớn.

Bài luyện

Số “4 vạn cán bộ, chiến sĩ 1961–1963” cần đọc thế nào?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Câu “nhiều nơi đạt 5 tấn thóc trên 1 héc-ta” cho phép kết luận gì?
Chọn một đáp án

Chọn tư liệu để chứng minh sự chi viện

Để chứng minh miền Bắc góp phần vào thắng lợi miền Nam, chọn hai nhóm dẫn chứng: xây dựng nguồn lực và đưa nguồn lực vào chiến trường. Ví dụ, nhà máy, giao thông tạo điều kiện vật chất; số cán bộ, hàng chi viện chứng minh sự hỗ trợ thực tế. Ghi năm và phạm vi bên cạnh từng số liệu, rồi giải thích tác dụng. Nếu tìm hiểu thêm về Đường Hồ Chí Minh hoặc một di tích, dùng SGK, bảo tàng, cơ quan văn hoá làm nguồn; ghi địa danh thời chiến riêng với địa chỉ tham quan hiện nay. Sản phẩm có thể là đoạn giới thiệu kèm bảng dẫn chứng và nguồn. Một nhận xét như “miền Bắc rất quan trọng” chỉ trở nên có căn cứ khi chỉ ra đã hỗ trợ gì, qua đâu và cho nhiệm vụ nào.

Bài luyện

Cặp dẫn chứng nào trực tiếp làm rõ vai trò hậu phương?
Chọn một đáp án

Đang học