btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Chuẩn bị lực lượng và căn cứ địa trước Cách mạng tháng Tám

Lưu trên thiết bị này
Việt Nam từ năm 1918 đến năm 1945 · Chọn bài khác

Lực lượng chính trị: Mặt trận Việt Minh

Ngày 19-5-1941, theo chủ trương Hội nghị Trung ương lần thứ tám, **Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh**, gọi tắt Việt Minh, được thành lập. Mặt trận tập hợp các giới đồng bào yêu nước để cùng giải phóng dân tộc, không phân biệt giàu nghèo, tuổi tác, giới tính, tôn giáo và xu hướng chính trị. Các tổ chức quần chúng mang tên **Hội Cứu quốc** thu hút đông đảo nhân dân, nhất là ở Cao Bằng. Nhân dân được tuyên truyền, tổ chức và tham gia chuẩn bị cách mạng. Việt Minh là mặt trận đoàn kết dân tộc; không đồng nhất với một đơn vị quân đội hay chỉ một hội nghề nghiệp. Lực lượng chính trị là quần chúng được giác ngộ, tập hợp, tổ chức để đấu tranh. Sự ra đời Việt Minh giúp xây dựng khối đoàn kết rộng rãi, làm cơ sở cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

Bài luyện: Tính chất tổ chức

Cách hiểu nào đúng về Việt Minh?
Chọn một đáp án

Bài luyện: Chuẩn bị quần chúng

Hoạt động các Hội Cứu quốc có vai trò nào?
Chọn một đáp án

Xây dựng lực lượng vũ trang

Từ đội du kích Bắc Sơn, lực lượng vũ trang cách mạng tiếp tục phát triển. Cứu quốc quân bắt đầu được thành lập năm 1941. Ngày 22-12-1944, theo chỉ thị Hồ Chí Minh, **Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân** ra đời tại Cao Bằng. Ngay sau thành lập, Đội thắng hai trận Phay Khắt, Nà Ngần, góp phần phát triển lực lượng và cổ vũ phong trào. Ngày 15-4-1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kì quyết định thống nhất Cứu quốc quân với Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thành **Việt Nam Giải phóng quân**, phát triển lực lượng vũ trang, nửa vũ trang và xây dựng căn cứ kháng Nhật. Cần ghi đây là **hội nghị ra quyết định**, không tự coi mọi việc hợp nhất đã hoàn tất ngay ngày họp.

Bài luyện: Đơn vị và thời gian

Sự kiện ngày 22-12-1944 là gì?
Chọn một đáp án

Bài luyện: Quyết nghị và thực hiện

Cách trình bày nào đúng về ngày 15-4-1945?
Chọn một đáp án

Căn cứ địa: nơi đứng chân và phát triển cách mạng

Đường lối, lực lượng chính trị–vũ trang và căn cứ địa theo SGK 9, trang 35–37; sơ đồ quan hệ, không phải bản đồ.
Đường lối, lực lượng chính trị–vũ trang và căn cứ địa theo SGK 9, trang 35–37; sơ đồ quan hệ, không phải bản đồ.
Căn cứ địa là địa bàn để lực lượng cách mạng đứng chân, tổ chức hoạt động, xây dựng lực lượng và chuẩn bị vật chất. Có căn cứ nhưng thiếu lực lượng sẽ khó hoạt động; lực lượng muốn phát triển cũng cần địa bàn bảo vệ và hỗ trợ. Trong 1941–1944, Trung ương chỉ đạo xây dựng căn cứ **Bắc Sơn – Võ Nhai** và **Cao Bằng**, rồi phát triển thành hai chiến khu **Cao – Bắc – Lạng** và **Thái – Tuyên – Hà**. Đây là tên địa bàn, chiến khu trong bối cảnh lịch sử, không phải danh sách tỉnh theo địa giới hiện nay. Tháng 5-1945, Hồ Chí Minh rời Pác Bó về Tân Trào, Tuyên Quang. Ngày 4-6-1945, theo chỉ thị của Người, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, trở thành căn cứ địa chính của cách mạng cả nước. Cùng đường lối đúng đắn, lực lượng chính trị và vũ trang, căn cứ tạo cơ sở chủ động chớp thời cơ. Không suy ra chỉ cần đợi Nhật thất bại là tự có chính quyền.

Bài luyện: Vai trò căn cứ địa

Vì sao xây dựng căn cứ địa gắn với xây dựng lực lượng?
Chọn một đáp án

Bài luyện: Địa bàn lịch sử

Tên Cao – Bắc – Lạng và Thái – Tuyên – Hà cần hiểu thế nào?
Chọn một đáp án

Đọc ảnh đúng thời điểm

Mở hình 8.2 trang 36 SGK: chú thích là **Việt Nam Giải phóng quân trước giờ lên đường thực hiện nhiệm vụ, tháng 8-1945**. Hướng dẫn giáo viên giải thích ảnh gắn buổi xuất phát ở Tân Trào ngày 16-8, sau khi lực lượng đã hợp nhất. Không dùng ảnh này với chú thích “lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân 22-12-1944”. Lập ba nhánh sơ đồ: chính trị, vũ trang, căn cứ. Mỗi nhánh chọn dẫn chứng và viết một câu giải thích vai trò. Cuối sơ đồ, nối ba nhánh với việc chuẩn bị khởi nghĩa; đó là cách trình bày đủ yêu cầu về lực lượng và căn cứ, thay vì chỉ học một ngày thành lập đơn vị.

Bài luyện: Chú thích đúng ảnh

Khi dùng hình 8.2, chú thích nào phù hợp?
Chọn một đáp án

Đang học