btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Đại suy thoái kinh tế và sự phát triển của chủ nghĩa phát xít

Lưu trên thiết bị này
Thế giới từ năm 1918 đến năm 1945 · Chọn bài khác

Từ tăng trưởng đến đại suy thoái

BTVN khái quát quan hệ trong đại suy thoái 1929–1933 theo SGK 9, tr.11–12.
BTVN khái quát quan hệ trong đại suy thoái 1929–1933 theo SGK 9, tr.11–12.
Giai đoạn 1924–1929, kinh tế các nước tư bản phát triển nhanh. Tuy nhiên, sản xuất tăng trong khi sức mua không theo kịp, hàng hoá bị ứ đọng. Mâu thuẫn đó góp phần dẫn tới cuộc **đại suy thoái kinh tế 1929–1933**. Tháng 10-1929, khủng hoảng bùng nổ ở Mỹ từ lĩnh vực tài chính, rồi lan ra nhiều lĩnh vực và các nước tư bản. Nhà máy đóng cửa hoặc thu hẹp sản xuất; nông nghiệp, thương mại suy giảm. Cuộc suy thoái kéo dài gần bốn năm, nghiêm trọng nhất vào năm 1932. Hậu quả không chỉ là giảm sản lượng. Nhiều công nhân mất việc, nông dân mất ruộng đất, đời sống khó khăn; mâu thuẫn xã hội gay gắt hơn và đấu tranh bùng nổ. Sơ đồ trong bài làm rõ quan hệ sản xuất – sức mua – ứ đọng; không dùng riêng một nguyên nhân để giải thích mọi diễn biến tại từng nước.

Bài luyện: Mất cân đối

Vì sao sản xuất tăng nhanh vẫn có thể dẫn tới khó khăn kinh tế trong bối cảnh trước năm 1929?
Chọn một đáp án

Bài luyện: Phạm vi khủng hoảng

Mô tả nào đúng diễn biến khái quát của đại suy thoái?
Chọn một đáp án

Bài luyện: Kinh tế và xã hội

Cặp dẫn chứng nào thể hiện cả hậu quả kinh tế và xã hội?
Chọn một đáp án

Những hướng giải quyết khác nhau

Các nước tư bản lựa chọn những biện pháp khác nhau để thoát khủng hoảng. Anh, Pháp và Mỹ tiến hành cải cách kinh tế, xã hội trong khuôn khổ chế độ tư bản. Ở Mỹ, Chính sách mới của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven là ví dụ tiêu biểu. Tại Đức và I-ta-li-a, chính quyền phát xít tăng cường độc tài, đàn áp và theo đuổi chiến tranh xâm lược để phân chia lại thế giới. Sự phát triển của chủ nghĩa phát xít gắn với điều kiện lịch sử từng nước; không thể coi mọi chính quyền phát xít đều ra đời cùng lúc khi suy thoái bùng nổ. Trong bối cảnh khủng hoảng và phong trào cách mạng dâng cao, giai cấp tư sản cầm quyền ở Đức đưa Hít-le lên làm Thủ tướng tháng 1-1933. Chính quyền phát xít tăng cường chạy đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh. Đức trở thành một lò lửa chiến tranh ở châu Âu; I-ta-li-a đẩy mạnh xâm lược ở châu Phi và khu vực Địa Trung Hải. Khủng hoảng làm mâu thuẫn thêm gay gắt, nhưng việc lựa chọn xâm lược là chính sách của các thế lực cầm quyền. Không suy ra rằng bất cứ nước gặp khó khăn kinh tế nào cũng tất yếu phải gây chiến tranh.

Bài luyện: Hai hướng đối phó

Cặp so sánh nào đúng theo bài?
Chọn một đáp án

Bài luyện: Mốc ở Đức

Sự kiện nào gắn với tháng 1-1933?
Chọn một đáp án

Nhận xét bằng nguyên nhân và dẫn chứng

Để so sánh hai hướng đối phó, lập bảng gồm: nước tiêu biểu, biện pháp chính, tác động đối với tình hình thế giới. Cải cách ở Mỹ hướng tới khôi phục kinh tế và ổn định xã hội; độc tài phát xít cùng xâm lược ở Đức làm tăng nguy cơ chiến tranh. Một nhận xét có căn cứ cần chỉ ra biện pháp cụ thể. Chẳng hạn “tăng cường vũ trang, chuẩn bị chiến tranh” giải thích vì sao Đức trở thành lò lửa chiến tranh. Chỉ viết “Đức gặp khủng hoảng” thì chưa nêu được sự lựa chọn chính sách và hậu quả của nó.

Bài luyện: Tránh suy diễn

Nhận xét nào hợp lí nhất từ việc các nước chọn hướng giải quyết khác nhau?
Chọn một đáp án

Bài luyện: Căn cứ so sánh

Dòng nào phù hợp với bảng so sánh hướng giải quyết khủng hoảng?
Chọn một đáp án

Đang học