Từ tăng trưởng đến đại suy thoái
Giai đoạn 1924–1929, kinh tế các nước tư bản phát triển nhanh. Tuy nhiên, sản xuất tăng trong khi sức mua không theo kịp, hàng hoá bị ứ đọng. Mâu thuẫn đó góp phần dẫn tới cuộc **đại suy thoái kinh tế 1929–1933**.
Tháng 10-1929, khủng hoảng bùng nổ ở Mỹ từ lĩnh vực tài chính, rồi lan ra nhiều lĩnh vực và các nước tư bản. Nhà máy đóng cửa hoặc thu hẹp sản xuất; nông nghiệp, thương mại suy giảm. Cuộc suy thoái kéo dài gần bốn năm, nghiêm trọng nhất vào năm 1932.
Hậu quả không chỉ là giảm sản lượng. Nhiều công nhân mất việc, nông dân mất ruộng đất, đời sống khó khăn; mâu thuẫn xã hội gay gắt hơn và đấu tranh bùng nổ. Sơ đồ trong bài làm rõ quan hệ sản xuất – sức mua – ứ đọng; không dùng riêng một nguyên nhân để giải thích mọi diễn biến tại từng nước.
Bài luyện: Mất cân đối
Vì sao sản xuất tăng nhanh vẫn có thể dẫn tới khó khăn kinh tế trong bối cảnh trước năm 1929?
Đúng. Sản xuất và tiêu thụ mất cân đối là điểm cần giải thích.
Kinh tế giai đoạn 1924–1929 phát triển nhanh.
Hoàn cảnh trước suy thoái có hàng hoá ứ đọng, không phải đều tiêu thụ hết.
Sức mua không theo kịp sản xuất mới là mâu thuẫn được bài nêu.
Lời giải
Trước đại suy thoái, sản xuất tăng nhưng sức mua không theo kịp. Hàng không tiêu thụ được gây ứ đọng; tăng trưởng sản xuất vì vậy không bảo đảm nền kinh tế phát triển ổn định.
Bài luyện: Phạm vi khủng hoảng
Mô tả nào đúng diễn biến khái quát của đại suy thoái?
Khủng hoảng lan rộng tới công nghiệp, nông nghiệp và đời sống.
Đây không phải cuộc đại suy thoái 1929–1933.
Đúng. Cần giữ cả nơi khởi đầu, thời gian và sự lan rộng.
Đại suy thoái xảy ra trước Chiến tranh thế giới thứ hai.
Lời giải
Đại suy thoái bùng nổ ở Mỹ tháng 10-1929 từ lĩnh vực tài chính, rồi lan ra các ngành và nhiều nước tư bản. Phạm vi rộng cùng hậu quả xã hội làm cuộc khủng hoảng đặc biệt nghiêm trọng.
Bài luyện: Kinh tế và xã hội
Cặp dẫn chứng nào thể hiện cả hậu quả kinh tế và xã hội?
Đúng. Dẫn chứng đầu về sản xuất, dẫn chứng sau về đời sống.
Cả hai chủ yếu phản ánh mặt kinh tế, chưa nêu rõ đời sống.
Hai mốc chiến tranh không trực tiếp mô tả hậu quả xã hội của suy thoái.
Phương án chưa nêu hậu quả xã hội cụ thể trong khủng hoảng.
Lời giải
Thu hẹp sản xuất là hậu quả kinh tế; thất nghiệp và đời sống khó khăn là hậu quả xã hội. Phân biệt hai mặt giúp tránh chỉ kể những chỉ tiêu sản lượng.
Những hướng giải quyết khác nhau
Các nước tư bản lựa chọn những biện pháp khác nhau để thoát khủng hoảng. Anh, Pháp và Mỹ tiến hành cải cách kinh tế, xã hội trong khuôn khổ chế độ tư bản. Ở Mỹ, Chính sách mới của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven là ví dụ tiêu biểu.
Tại Đức và I-ta-li-a, chính quyền phát xít tăng cường độc tài, đàn áp và theo đuổi chiến tranh xâm lược để phân chia lại thế giới. Sự phát triển của chủ nghĩa phát xít gắn với điều kiện lịch sử từng nước; không thể coi mọi chính quyền phát xít đều ra đời cùng lúc khi suy thoái bùng nổ.
Trong bối cảnh khủng hoảng và phong trào cách mạng dâng cao, giai cấp tư sản cầm quyền ở Đức đưa Hít-le lên làm Thủ tướng tháng 1-1933. Chính quyền phát xít tăng cường chạy đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh. Đức trở thành một lò lửa chiến tranh ở châu Âu; I-ta-li-a đẩy mạnh xâm lược ở châu Phi và khu vực Địa Trung Hải.
Khủng hoảng làm mâu thuẫn thêm gay gắt, nhưng việc lựa chọn xâm lược là chính sách của các thế lực cầm quyền. Không suy ra rằng bất cứ nước gặp khó khăn kinh tế nào cũng tất yếu phải gây chiến tranh.
Bài luyện: Hai hướng đối phó
Cặp so sánh nào đúng theo bài?
Chính quyền phát xít tăng cường vũ trang và xâm lược.
Các chính sách này không thuộc những nước, hoàn cảnh được nêu.
Bài nêu các con đường đối phó khác nhau.
Đúng. Hai hướng có nội dung và hậu quả khác nhau.
Lời giải
Anh, Pháp và Mỹ tìm lối ra bằng cải cách trong chế độ tư bản. Đức và I-ta-li-a tăng cường độc tài phát xít và xâm lược; sự khác nhau này góp phần làm tình hình thế giới căng thẳng.
Bài luyện: Mốc ở Đức
Sự kiện nào gắn với tháng 1-1933?
Sự kiện đầu hàng thuộc tháng 5-1945.
Đảng Cộng sản Đức ra đời tháng 12-1918.
Khủng hoảng bùng nổ tháng 10-1929.
Đúng. Đây là mốc củng cố chính quyền phát xít ở Đức.
Lời giải
Tháng 1-1933, Hít-le trở thành Thủ tướng Đức. Đặt mốc này trong sự phát triển của chính quyền phát xít và việc chuẩn bị chiến tranh, không nhầm với khởi đầu suy thoái năm 1929.
Nhận xét bằng nguyên nhân và dẫn chứng
Để so sánh hai hướng đối phó, lập bảng gồm: nước tiêu biểu, biện pháp chính, tác động đối với tình hình thế giới. Cải cách ở Mỹ hướng tới khôi phục kinh tế và ổn định xã hội; độc tài phát xít cùng xâm lược ở Đức làm tăng nguy cơ chiến tranh.
Một nhận xét có căn cứ cần chỉ ra biện pháp cụ thể. Chẳng hạn “tăng cường vũ trang, chuẩn bị chiến tranh” giải thích vì sao Đức trở thành lò lửa chiến tranh. Chỉ viết “Đức gặp khủng hoảng” thì chưa nêu được sự lựa chọn chính sách và hậu quả của nó.
Bài luyện: Tránh suy diễn
Nhận xét nào hợp lí nhất từ việc các nước chọn hướng giải quyết khác nhau?
Hai hướng tác động khác nhau đến kinh tế, xã hội và hoà bình.
Các nước Anh, Pháp, Mỹ lựa chọn cải cách là dẫn chứng ngược lại.
Chính quyền phát xít đã tồn tại và chuẩn bị chiến tranh trước đó.
Đúng. Quan hệ lịch sử cần cả hoàn cảnh và lựa chọn chính sách.
Lời giải
Cùng chịu đại suy thoái nhưng các nước có hướng đối phó khác nhau. Phân tích nguy cơ chiến tranh phải nêu chính sách độc tài, vũ trang, xâm lược của các thế lực phát xít, không chỉ nêu khó khăn kinh tế.
Bài luyện: Căn cứ so sánh
Dòng nào phù hợp với bảng so sánh hướng giải quyết khủng hoảng?
SGK xếp Anh, Pháp vào hướng cải cách kinh tế, xã hội.
Chính sách mới tăng vai trò Nhà nước, cải cách kinh tế và xã hội.
Đúng. Biện pháp nối rõ với tác động.
Chính quyền phát xít I-ta-li-a tiếp tục chính sách xâm lược.
Lời giải
Bảng cần nối đúng nước với biện pháp và tác động. Tăng cường vũ trang, chuẩn bị chiến tranh ở Đức là căn cứ để nhận xét nguy cơ chiến tranh gia tăng tại châu Âu.
Đang học