btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Biển đảo Việt Nam: Chứng cứ lịch sử trước năm 1884

Lưu trên thiết bị này
Bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp ở Biển Đông · Chọn bài khác

Mỗi loại tư liệu cho biết một mặt của lịch sử

Mỗi loại tư liệu cho biết một mặt của lịch sử
Phân loại nguồn theo SGK 9 trang 230–232; sơ đồ học tập, không phải bản chụp chứng cứ gốc.
Nghiên cứu biển đảo cần kết hợp tư liệu hiện vật, chữ viết, bản đồ và văn bản hành chính. Theo SGK, các nguồn trong nước và ngoài nước cung cấp chứng cứ về quá trình xác lập, thực thi chủ quyền biển đảo Việt Nam qua nhiều thời kì. Di chỉ Hạ Long, Bàu Tró, Hoa Lộc cho thấy cư dân cổ sống gần biển, gắn sinh kế với biển. Dấu vết tàu đắm, gốm và trao đổi của cư dân Chăm-pa, Óc Eo cho thấy giao lưu đường biển rộng. Các chứng cứ này giúp tìm hiểu cư trú, sinh kế, giao thương; khi nói về một đảo hoặc một hoạt động quản lí cụ thể, cần tư liệu đúng đối tượng đó. Sách sử, địa lí cổ như **Đại Việt sử kí toàn thư, Dư địa chí, Phủ biên tạp lục, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí** ghi nhiều mặt về cương vực và hoạt động trên biển. Đọc từng đoạn để biết sự kiện nào được ghi, tránh coi mọi sách đều chứa cùng một nội dung.

Bài luyện

Di chỉ cư dân cổ ven biển trực tiếp giúp tìm hiểu điều gì?
Chọn một đáp án

Từ hoạt động Vân Đồn đến địa danh trên bản đồ cổ

Tư liệu 1 trong SGK trang 231 dẫn **Đại Việt sử kí toàn thư** về năm **1149**: dưới thời Lý Anh Tông, thuyền buôn nước ngoài đến trao đổi, nhà vua cho lập trang Vân Đồn để mua bán. Đoạn này cho thấy việc tổ chức giao thương đường biển và vai trò của nhà nước đương thời. Các bản đồ cổ ghi những tên như Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa. **Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838)** được SGK giới thiệu với chú giải Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa. Tên gọi, cách vẽ của bản đồ cần đặt trong trình độ và mục đích của thời đó. Mở hình 2 SGK trang 231: đọc tên bản đồ, năm và hai chú thích địa danh; đối chiếu phần giải thích trong sách. Bản đồ cổ là chứng cứ lịch sử, không dùng trực tiếp như bản đồ toạ độ hiện đại hoặc tự thêm đường biên lên hình.

Bài luyện

Đoạn về năm 1149 trong bài cho biết hoạt động nào?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Đọc bản đồ năm 1838, thao tác nào phù hợp?
Chọn một đáp án

Văn bản hành chính ghi lại việc tổ chức thực thi

**Châu bản triều Nguyễn** là văn bản hành chính có dấu phê duyệt của nhà vua và dấu ấn cơ quan liên quan. Theo SGK, những văn bản này ghi hoạt động đo đạc, vẽ bản đồ, cắm mốc, điều thuỷ quân, cứu hộ và cứu nạn tại các đảo, quần đảo. Nguồn giới thiệu của cơ quan lưu trữ cho thấy các bản tâu về Hoàng Sa có việc cứu hộ tàu mắc cạn năm 1830, chuẩn bị cọc gỗ làm mốc năm 1836, báo cáo khảo sát và bản đồ năm 1838. Điều đáng chú ý là hoạt động được tổ chức, báo cáo và xử lí bởi cơ quan nhà nước, không chỉ là câu chuyện truyền miệng. Bản đồ, hồi kí và báo cáo của người nước ngoài được SGK giới thiệu bổ sung việc nhận biết vùng biển, đảo và hoạt động của Việt Nam. Khi đọc, ghi tác giả hoặc cơ quan, loại nguồn, nội dung, năm sự kiện và năm xuất bản nếu khác nhau. Lập phiếu ba phần: **tư liệu – hoạt động được ghi – nhận xét có căn cứ**. Viết bằng lời riêng; nếu trích nguyên văn phải đúng bản, có nguồn. Kết hợp nhiều nhóm chứng cứ giúp thấy quá trình lịch sử rõ hơn.

Bài luyện

Giá trị nổi bật của Châu bản trong nội dung này là gì?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Một hồi kí được xuất bản năm 1885 kể sự việc trước đó. Khi ghi thời gian, cần làm gì?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Nhận xét nào đúng với phiếu đọc chứng cứ?
Chọn một đáp án

Đang học