Mỗi loại tư liệu cho biết một mặt của lịch sử
Nghiên cứu biển đảo cần kết hợp tư liệu hiện vật, chữ viết, bản đồ và văn bản hành chính. Theo SGK, các nguồn trong nước và ngoài nước cung cấp chứng cứ về quá trình xác lập, thực thi chủ quyền biển đảo Việt Nam qua nhiều thời kì.
Di chỉ Hạ Long, Bàu Tró, Hoa Lộc cho thấy cư dân cổ sống gần biển, gắn sinh kế với biển. Dấu vết tàu đắm, gốm và trao đổi của cư dân Chăm-pa, Óc Eo cho thấy giao lưu đường biển rộng. Các chứng cứ này giúp tìm hiểu cư trú, sinh kế, giao thương; khi nói về một đảo hoặc một hoạt động quản lí cụ thể, cần tư liệu đúng đối tượng đó.
Sách sử, địa lí cổ như **Đại Việt sử kí toàn thư, Dư địa chí, Phủ biên tạp lục, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí** ghi nhiều mặt về cương vực và hoạt động trên biển. Đọc từng đoạn để biết sự kiện nào được ghi, tránh coi mọi sách đều chứa cùng một nội dung.
Bài luyện
Di chỉ cư dân cổ ven biển trực tiếp giúp tìm hiểu điều gì?
Đúng. Di chỉ, hiện vật là bằng chứng về cư dân và hoạt động trong bối cảnh tương ứng.
Di chỉ cư dân ven biển không đủ chứng minh cơ cấu nhà nước qua mọi thời kì.
Muốn biết nội dung sách phải đọc đúng văn bản; di chỉ không thay chứng cứ chữ viết.
Phân định biển cần căn cứ pháp luật và điều ước liên quan, không suy trực tiếp từ vị trí hiện vật.
Lời giải
Di chỉ, hiện vật là bằng chứng về cư dân và hoạt động trong bối cảnh tương ứng. Kết luận cần đúng phạm vi của nguồn, kết hợp các chứng cứ khác khi phân tích chủ quyền cụ thể.
Từ hoạt động Vân Đồn đến địa danh trên bản đồ cổ
Tư liệu 1 trong SGK trang 231 dẫn **Đại Việt sử kí toàn thư** về năm **1149**: dưới thời Lý Anh Tông, thuyền buôn nước ngoài đến trao đổi, nhà vua cho lập trang Vân Đồn để mua bán. Đoạn này cho thấy việc tổ chức giao thương đường biển và vai trò của nhà nước đương thời.
Các bản đồ cổ ghi những tên như Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa. **Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838)** được SGK giới thiệu với chú giải Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa. Tên gọi, cách vẽ của bản đồ cần đặt trong trình độ và mục đích của thời đó.
Mở hình 2 SGK trang 231: đọc tên bản đồ, năm và hai chú thích địa danh; đối chiếu phần giải thích trong sách. Bản đồ cổ là chứng cứ lịch sử, không dùng trực tiếp như bản đồ toạ độ hiện đại hoặc tự thêm đường biên lên hình.
Bài luyện
Đoạn về năm 1149 trong bài cho biết hoạt động nào?
Đây là nội dung, thời điểm khác; tư liệu đang hỏi nói giao thương Vân Đồn năm 1149.
Đoạn dẫn nêu nhà vua cho lập trang để tổ chức mua bán.
1149 là năm sự kiện Vân Đồn trong đoạn dẫn, không phải năm xuất bản các sách.
Đúng. Nội dung tư liệu gắn việc vua Lý Anh Tông cho lập trang Vân Đồn với hoạt động thuyền buôn.
Lời giải
Nội dung tư liệu gắn việc vua Lý Anh Tông cho lập trang Vân Đồn với hoạt động thuyền buôn. Nhận xét cần bám điều văn bản thực sự nói.
Bài luyện
Đọc bản đồ năm 1838, thao tác nào phù hợp?
Cần giữ tên trong tư liệu để đọc chứng cứ lịch sử.
Bản đồ cổ không thay hải đồ, toạ độ và căn cứ pháp lí hiện đại.
Đúng. Tên và niên đại xác định bối cảnh bản đồ, chú thích giúp đọc đối tượng.
Làm sai hình tư liệu và bối cảnh.
Lời giải
Tên và niên đại xác định bối cảnh bản đồ, chú thích giúp đọc đối tượng. Giữ bản gốc và giải thích đúng nguồn, không áp cách đo hiện đại tuỳ ý.
Văn bản hành chính ghi lại việc tổ chức thực thi
**Châu bản triều Nguyễn** là văn bản hành chính có dấu phê duyệt của nhà vua và dấu ấn cơ quan liên quan. Theo SGK, những văn bản này ghi hoạt động đo đạc, vẽ bản đồ, cắm mốc, điều thuỷ quân, cứu hộ và cứu nạn tại các đảo, quần đảo.
Nguồn giới thiệu của cơ quan lưu trữ cho thấy các bản tâu về Hoàng Sa có việc cứu hộ tàu mắc cạn năm 1830, chuẩn bị cọc gỗ làm mốc năm 1836, báo cáo khảo sát và bản đồ năm 1838. Điều đáng chú ý là hoạt động được tổ chức, báo cáo và xử lí bởi cơ quan nhà nước, không chỉ là câu chuyện truyền miệng.
Bản đồ, hồi kí và báo cáo của người nước ngoài được SGK giới thiệu bổ sung việc nhận biết vùng biển, đảo và hoạt động của Việt Nam. Khi đọc, ghi tác giả hoặc cơ quan, loại nguồn, nội dung, năm sự kiện và năm xuất bản nếu khác nhau.
Lập phiếu ba phần: **tư liệu – hoạt động được ghi – nhận xét có căn cứ**. Viết bằng lời riêng; nếu trích nguyên văn phải đúng bản, có nguồn. Kết hợp nhiều nhóm chứng cứ giúp thấy quá trình lịch sử rõ hơn.
Bài luyện
Giá trị nổi bật của Châu bản trong nội dung này là gì?
Châu bản là văn bản hành chính nhà nước, khác hồi kí cá nhân.
Đúng. Châu bản có tính chất văn bản nhà nước, ghi việc tổ chức và xử lí hoạt động cụ thể.
Châu bản có tính chất văn bản hành chính, ghi hoạt động tổ chức và xử lí.
Châu bản thuộc nguồn hành chính thời Nguyễn, khác điều ước quốc tế hiện đại.
Lời giải
Châu bản có tính chất văn bản nhà nước, ghi việc tổ chức và xử lí hoạt động cụ thể. Kết hợp với các nguồn khác, chúng là chứng cứ quan trọng về quá trình thực thi chủ quyền.
Bài luyện
Một hồi kí được xuất bản năm 1885 kể sự việc trước đó. Khi ghi thời gian, cần làm gì?
Đúng. Thời điểm tạo, xuất bản nguồn và thời điểm sự kiện có thể khác nhau.
Năm xuất bản chưa phải năm của mọi sự kiện.
Cần căn cứ thông tin nguồn, không tự tạo mốc.
Làm mất bối cảnh lịch sử.
Lời giải
Thời điểm tạo, xuất bản nguồn và thời điểm sự kiện có thể khác nhau. Nếu nguồn chưa đủ xác định năm sự việc, cần giữ mức thông tin đã có thay vì đoán.
Bài luyện
Nhận xét nào đúng với phiếu đọc chứng cứ?
Kết luận phải xuất phát từ nội dung tư liệu.
Tên sách chưa cho biết chứng cứ cụ thể.
Cần phân biệt ảnh hiện tại, tư liệu gốc và tái dựng.
Đúng. Phiếu đọc nối tư liệu với nội dung và nhận xét có căn cứ.
Lời giải
Phiếu đọc nối tư liệu với nội dung và nhận xét có căn cứ. Nguồn có thể giúp chứng minh một mặt của quá trình, không cần gán cho nó mọi thông tin.
Đang học