Thế kỉ XVI–XVIII: khai phá và tổ chức quản lí
Các cảng thị Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An, Thanh Hà, Gia Định hướng ra biển, thúc đẩy giao thương với khu vực và châu Âu. Ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn khuyến khích khai khẩn, lập làng; cư dân đến lập nghiệp trên những đảo như Côn Lôn, Phú Quốc. Bên cạnh phát triển sản xuất, chính quyền tổ chức phòng thủ ven biển và lực lượng canh giữ biển đảo.
Các đội **Hoàng Sa, Bắc Hải** được tổ chức để ra biển, khai thác sản vật và quản lí biển đảo. Nhà nước giao nhiệm vụ, tổ chức lực lượng và thu nhận kết quả, cho thấy hoạt động có tổ chức. Triều Tây Sơn tiếp tục quan tâm tổ chức khai thác Hoàng Sa và thực hiện chủ quyền biển đảo.
Tư liệu 1 SGK 170 về Côn Lôn giúp thấy việc chính quyền chúa Nguyễn tổ chức chống lực lượng xâm chiếm đảo. Khi đọc cần tìm chủ thể, hoạt động và kết quả; không đổi cụm thời gian tương đối trong tư liệu thành một ngày, năm cụ thể chưa được xác minh.
Bài luyện: Vai trò tổ chức
Hoạt động của đội Hoàng Sa, Bắc Hải trong bài thể hiện điều gì?
Đã bỏ hoạt động tổ chức của chính quyền.
Đúng. Khai thác gắn với quản lí và giao nhiệm vụ.
Các đội được tổ chức ra biển đảo làm nhiệm vụ.
Tưởng niệm là vai trò công trình hiện đại, khác hoạt động các đội.
Lời giải
Các đội được chính quyền tổ chức làm nhiệm vụ trên biển đảo. Đây là dẫn chứng về khai thác gắn với hoạt động quản lí và thực thi chủ quyền.
Đọc tờ sai năm 1786
Tư liệu 2 SGK 170 dẫn tờ sai của quan Thượng tướng công triều Tây Sơn năm 1786. Theo nội dung tư liệu, người chỉ huy đội Hoàng Sa được giao dẫn bốn thuyền ra Hoàng Sa và các cù lao, thu lượm sản vật, vật phẩm rồi đưa về kinh đô nộp theo lệ.
Có thể đọc theo ba câu hỏi: **Ai giao, ai nhận nhiệm vụ? Nhiệm vụ ở đâu, làm gì? Kết quả phải được đưa về đâu?** Lệnh giao việc và nghĩa vụ nộp theo lệ cho thấy hoạt động được chính quyền tổ chức, tiếp nối việc quản lí biển đảo. Không chỉ nêu có thuyền ra biển rồi bỏ qua chủ thể và nhiệm vụ.
Hình tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải ở SGK 170 là công trình tưởng niệm hiện đại. Nó giúp tìm hiểu việc ghi nhớ lịch sử, không là ảnh chụp đội thuyền năm 1786. Tờ sai là tư liệu viết, tượng đài là hình ảnh công trình tưởng niệm: hai loại cần đọc khác nhau.
Bài luyện: Khai thác tư liệu
Chi tiết nào của tờ sai 1786 thể hiện rõ hoạt động được chính quyền tổ chức?
Khả năng đi biển chưa nói ai tổ chức nhiệm vụ.
Một sản vật chưa đủ cho nhận xét về tổ chức.
Đúng. Chủ thể, lệnh và nghĩa vụ nộp là căn cứ trực tiếp.
Tượng đài không thay nội dung lệnh lịch sử.
Lời giải
Đọc tư liệu cần nối chủ thể giao việc với người thực hiện, nội dung nhiệm vụ và việc nộp theo lệ. Những chi tiết ấy hỗ trợ nhận xét về tổ chức quản lí.
Bài luyện: Phân biệt hình ảnh
Ảnh tượng đài ở Lý Sơn được dùng đúng khi nào?
Đúng. Cần nói đúng loại công trình và mục đích.
Thời XVIII chưa có ảnh chụp đoàn như cách hiểu này.
Tượng đài khác văn bản gốc.
Cần các loại bằng chứng phù hợp, không một ảnh thay tất cả.
Lời giải
Ảnh hiện nay phản ánh công trình tưởng niệm. Không được biến hình tái hiện hoặc tưởng niệm thành ảnh sự kiện quá khứ.
Thế kỉ XIX: khảo sát và thực thi chủ quyền
Từ 1802 đến 1884, các vua Nguyễn tiếp tục củng cố chủ quyền biển đảo qua khảo sát, thăm dò, khai thác, đo đạc thuỷ trình, vẽ bản đồ và cắm cờ ở Hoàng Sa. Một dẫn chứng theo SGV và tư liệu bảo tàng là **năm 1815, Gia Long cử Phạm Quang Ảnh ra Hoàng Sa thăm dò đường biển**. Hoạt động phải được gắn đúng triều đại, không chuyển mốc 1815 sang Tây Sơn.
Mộc bản là bản khắc gỗ để in văn bản; châu bản triều Nguyễn là văn bản hành chính có châu phê hoặc dấu ấn của triều đình. Khi tìm nguồn, cần đọc tên tư liệu và nội dung, không gọi mọi tài liệu chữ cổ là mộc bản. Các văn bản giao việc, báo cáo khảo sát, đo đạc và chỉ đạo thực hiện là bằng chứng về hoạt động quản lí nhà nước.
Khi xem một tư liệu tại bảo tàng, đọc tên, loại tư liệu và thời gian trước khi rút nhận xét. Khi giới thiệu cần nêu nguồn và điều nội dung thực sự thể hiện; không suy thêm số đảo, toạ độ hoặc mốc chưa có căn cứ.
Bài luyện: Đúng triều đại
Dẫn chứng Gia Long cử Phạm Quang Ảnh ra Hoàng Sa năm 1815 thuộc thời kì nào?
Sai triều đại và thời gian.
Tờ sai 1786 thuộc Tây Sơn, khác dẫn chứng 1815.
Chúa Nguyễn ở Đàng Trong khác triều Nguyễn từ 1802.
Đúng. Gia Long là vua đầu triều Nguyễn.
Lời giải
1815 thuộc đầu thế kỉ XIX, dưới triều Nguyễn. Cần giữ đúng chủ thể và mốc khi nối các bằng chứng thành quá trình tiếp nối.
Bài luyện: Mộc bản và châu bản
Cặp mô tả nào đúng thứ tự mộc bản–châu bản?
Hai mô tả đã đảo thứ tự.
Đúng. Hình thức và chức năng giúp phân biệt.
Chữ cổ hoặc bản đồ chưa đủ xác định hai loại này.
Ảnh và vật liệu gỗ không là tiêu chí đủ phân loại.
Lời giải
Mộc bản gắn với bản khắc để in; châu bản gắn với văn bản hành chính triều Nguyễn và việc phê duyệt, xử lí của triều đình. Phải đọc chú thích nguồn thay vì đoán từ chữ cổ.
Từ 1884 đến nay: giữ đúng bối cảnh
Theo SGK, từ 1884 đến 1945, sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt, Pháp đại diện quyền lợi của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại, tiếp tục thực thi chủ quyền trên Biển Đông, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ 1945 đến nay, Nhà nước Việt Nam qua các thời kì tiếp tục kiên quyết đấu tranh nhằm thực thi chủ quyền biển đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Khi tổng kết, nêu sự tiếp nối cùng hoạt động, bằng chứng của từng thời kì, không gộp mọi chủ thể vào một triều đại.
Bảng SGK 171 yêu cầu tổng kết bốn khoảng lớn đến cuối thế kỉ XIX. Khi thêm phần 1884–1945 và sau 1945 để nối mạch bài, ghi thành mục tiếp theo với mốc riêng; không xếp toàn bộ 1945 vào thế kỉ XIX.
Bài luyện: Xếp đúng thời gian
Cách ghi nào đúng khi thêm nội dung 1884–1945 vào bảng tổng kết?
1884–1945 thuộc XIX–XX, không XVIII.
1945 thuộc thế kỉ XX.
Đúng. Một giai đoạn có thể vượt ranh giới thế kỉ.
Giữ đúng chủ thể lịch sử của từng thời đoạn.
Lời giải
1884 nằm ở thế kỉ XIX còn 1945 ở thế kỉ XX. Mốc riêng giúp trình bày sự tiếp nối mà không làm sai khung thời gian.
Hoàn thành một bài giới thiệu có nguồn
Chọn **một trong hai nhiệm vụ** theo SGK 171: đóng vai hướng dẫn viên, giới thiệu những nét chính quá trình xác lập chủ quyền biển đảo; hoặc sưu tầm tư liệu rồi viết **bản tin khoảng 7–10 câu** về chủ quyền biển đảo Việt Nam.
Trước khi viết, hoàn thành bảng bốn thời đoạn từ tiền sử đến cuối XIX bằng bằng chứng đã học; bổ sung sự tiếp nối sau đó ở mục riêng khi cần. Chọn vài dẫn chứng rõ, chẳng hạn tờ sai 1786 hoặc hoạt động khảo sát 1815. Mỗi dẫn chứng cần tên nguồn, thời gian, chủ thể và hoạt động; giải thích điều nó cho thấy thay vì chỉ liệt kê mốc.
Bản tin cần lời văn riêng, thông tin chính xác và dùng đúng thuật ngữ. Có thể mở đầu vấn đề, nêu hai hoặc ba dẫn chứng, giải thích sự tiếp nối rồi nêu trách nhiệm tìm hiểu, bảo vệ biển đảo. Kiểm ảnh minh hoạ thuộc loại nào, chú thích rõ hiện vật, tư liệu hay công trình tưởng niệm. Sản phẩm viết, thuyết minh và việc tự tìm nguồn là phần cần thực hiện ngoài câu chọn.
Bài luyện: Sản phẩm đúng yêu cầu
Bản tin nào phù hợp hơn với nhiệm vụ?
Đúng. Giữ độ dài, căn cứ và nội dung trọng tâm của nhiệm vụ.
Chưa đáp ứng tìm hiểu quá trình lịch sử.
Không thể hiện cách đọc và diễn đạt riêng, cũng thiếu nguồn.
Đã nhầm loại hình và suy diễn tư liệu.
Lời giải
Nhiệm vụ yêu cầu một bản tin ngắn có căn cứ. Lời riêng, đúng mốc và loại tư liệu cùng nguồn rõ giúp nội dung chính xác và dễ hiểu.
Bài luyện: Nhận xét về sự tiếp nối
Nhận xét nào dựa đúng mạch dẫn chứng của bài?
Một nguồn có phạm vi, không thay mọi bằng chứng.
Tư liệu viết, hiện vật và nhiều loại khác đều có giá trị phù hợp.
Các thời kì có chủ thể, hoàn cảnh và mốc riêng.
Đúng. Tổng kết cần nối mạch mà không xoá khác biệt lịch sử.
Lời giải
Các lệnh, khảo sát và hoạt động bảo vệ qua nhiều thời kì giúp trình bày quá trình tiếp nối. Sức thuyết phục nằm ở việc dùng đúng bằng chứng, không mở rộng một nguồn quá giới hạn.
Đang học