Sinh vật biển phong phú
Biển Việt Nam có tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng sinh học cao. SGK nêu hơn 2 000 loài cá, khoảng 110 loài có giá trị kinh tế cao. Còn có nhiều nhóm động vật khác, với các ví dụ có giá trị thực phẩm như tôm, mực, hải sâm. Rong biển ở vùng triều có thể được dùng trong công nghiệp thực phẩm và xuất khẩu. Đây là các số khái quát được sách dẫn, không là bản kiểm kê mới cho từng vùng biển.
Sinh vật cung cấp thực phẩm, nguyên liệu và nguồn sinh kế. Các hệ sinh thái như rạn san hô, thảm cỏ biển còn tạo nơi sống, nguồn thức ăn cho nhiều loài. Khai thác hợp lí cần bảo vệ nơi sống và khả năng tái tạo nguồn lợi; phong phú không có nghĩa có thể đánh bắt không giới hạn.
Bài luyện: Nhận biết tài nguyên sinh vật
Nhóm nào gồm tài nguyên sinh vật biển?
Đây là nhóm khoáng sản.
Đúng. Cá, tôm và rong biển đều là sinh vật.
Đây là điều kiện tự nhiên và công trình liên quan giao thông.
Nhóm này gồm cảnh quan và khoáng sản, không là sinh vật.
Lời giải
Cá, tôm, rong biển thuộc tài nguyên sinh vật. Phân loại theo bản chất đối tượng trước, rồi mới phân tích giá trị kinh tế và bảo tồn.
Bài luyện: Phong phú và bền vững
Vì sao tài nguyên sinh vật phong phú vẫn cần bảo vệ?
Số loài nhiều không bảo đảm nguồn lợi chịu được mọi mức khai thác.
Sinh vật và nơi sống cũng cần được bảo vệ.
Đúng. Cần giữ khả năng tái tạo và môi trường sống.
Cách sử dụng hợp lí có thể gắn với bảo tồn, không kết luận tuyệt đối như vậy.
Lời giải
Tài nguyên sinh vật có thể suy giảm khi khai thác vượt khả năng tái tạo hoặc nơi sống bị phá huỷ. Do đó, giá trị kinh tế phải đi cùng quản lí khai thác và bảo vệ hệ sinh thái.
Cảnh quan tạo điều kiện du lịch
Bờ biển dài, bãi cát, vịnh, hang động, cảnh quan đảo và hệ sinh thái biển tạo điều kiện phát triển du lịch. Theo địa danh của SGK bản 2026, có thể nêu vịnh Hạ Long ở Quảng Ninh, Cát Bà ở Hải Phòng, Mỹ Khê ở Đà Nẵng, Quy Nhơn ở Gia Lai, Nha Trang ở Khánh Hoà, Mũi Né ở Lâm Đồng, Côn Đảo ở Thành phố Hồ Chí Minh, Phú Quốc ở An Giang.
Khi phân tích, cần nối đặc điểm với giá trị: bãi cát và cảnh quan đẹp thuận lợi nghỉ dưỡng, tham quan; hệ sinh thái đa dạng tạo điều kiện tìm hiểu thiên nhiên. Đây là ví dụ về tài nguyên, không chứng minh mọi nơi đã có cùng lượng khách hoặc doanh thu. Hoạt động du lịch cần giữ cảnh quan, xử lí rác và nước thải để duy trì chính tài nguyên tạo sức hút.
Bài luyện: Tài nguyên và kết quả kinh doanh
Nhận xét nào đúng về một vùng có bãi biển, vịnh đẹp?
Đúng. Phân biệt tài nguyên với kết quả khai thác.
Doanh thu còn phụ thuộc nhiều điều kiện và biến động.
Tài nguyên du lịch không chứng minh quy mô cảng hàng hoá.
Muốn biết lao động cần số liệu tương ứng.
Lời giải
Tài nguyên là điều kiện để phát triển, còn lượng khách, doanh thu, lao động là kết quả cần dữ liệu cụ thể. Không suy một chỉ tiêu hoạt động chỉ từ việc có cảnh quan đẹp.
Khoáng sản ở biển và thềm lục địa
Dầu mỏ và khí tự nhiên tập trung ở các bể trầm tích trong vùng thềm lục địa. SGK nêu các bể Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay–Thổ Chu, Tư Chính–Vũng Mây, nhóm bể quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Có thể dùng vài ví dụ tiêu biểu để trình bày phân bố, không cần biến mọi tên bể thành một dãy học thuộc.
Các khoáng sản khác gồm ti-tan, cát thuỷ tinh, muối và nhiều loại phân bố ở vùng ven biển, sườn bờ, dưới đáy biển. **Băng cháy** được SGK nêu là tài nguyên có tiềm năng sử dụng trong tương lai. Tiềm năng không đồng nghĩa đã khai thác thương mại rộng rãi.
Dầu khí, khoáng sản góp phần cung cấp năng lượng và nguyên liệu. Khai thác cần công nghệ, vốn, quản lí và bảo vệ môi trường; có bể trầm tích không có nghĩa mọi nơi trong bể đều đang khai thác hoặc có cùng trữ lượng.
Bài luyện: Phân bố khoáng sản
Dầu mỏ và khí tự nhiên được bài trình bày gắn với đối tượng nào?
Đây là hệ sinh thái, không phải đối tượng phân bố dầu khí được bài nêu.
Đây là cảnh quan, không chỉ ra phân bố dầu khí.
Phù sa mới ở cửa sông chưa phải căn cứ xác định bể dầu khí trong bài.
Đúng. Đây là nhóm địa chất được sách nêu.
Lời giải
SGK gắn dầu mỏ, khí tự nhiên với các bể trầm tích trong vùng thềm lục địa, như Cửu Long hoặc Nam Côn Sơn. Không suy mọi phần của bể đều đã khai thác hay có trữ lượng bằng nhau.
Bài luyện: Hiểu từ tiềm năng
SGK nêu băng cháy có tiềm năng sử dụng trong tương lai. Cách hiểu nào đúng?
Sách không cho dữ liệu sản lượng để kết luận như vậy.
Đúng. Tiềm năng và khai thác thực tế là hai ý khác nhau.
SGK xếp băng cháy trong phần khoáng sản.
Không có căn cứ cho kết luận chuyển hoàn toàn như vậy.
Lời giải
Tiềm năng nói tới khả năng có thể khai thác, sử dụng trong tương lai. Không đổi nhận định ấy thành thông tin đã có sản xuất thương mại hoặc sản lượng cụ thể.
Điều kiện phát triển giao thông biển
Vùng biển Việt Nam có điều kiện thuận lợi xây cảng nước sâu và phát triển giao thông vận tải biển. Vũng vịnh và vùng nước có độ sâu phù hợp giúp tàu tiếp cận, neo đậu; đường biển tạo khả năng trao đổi hàng hoá với các khu vực khác.
Cần phân biệt điều kiện tự nhiên với công trình và hoạt động: vịnh sâu là điều kiện; cảng là công trình; lượng hàng qua cảng là kết quả hoạt động. Một vịnh sâu chưa tự tạo ra cảng lớn nếu thiếu đầu tư, kết nối và quản lí. Phát triển cảng, vận tải cũng cần kiểm soát chất thải, sự cố và tác động tới môi trường.
Bài luyện: Phân biệt điều kiện và kết quả
Dãy nào theo thứ tự điều kiện tự nhiên → công trình → kết quả hoạt động?
Thứ tự điều kiện và kết quả đã đảo.
Cảng là công trình, không là điều kiện tự nhiên đầu tiên.
Đúng. Ba đối tượng có vai trò khác nhau.
Lượng hàng là kết quả, còn độ sâu vẫn là đặc điểm tự nhiên.
Lời giải
Vịnh sâu tạo điều kiện; cảng do con người xây dựng; lượng hàng qua cảng phản ánh hoạt động. Phân biệt ba ý giúp tránh lấy thuận lợi tự nhiên để suy quy mô kinh tế hiện tại.
Gộp thành một sơ đồ có ý nghĩa
Theo từng nhánh: có gì, dùng vào đâu và cần bảo vệ điều gì.
Có thể chia sơ đồ thành **bốn nhánh**: sinh vật, du lịch, khoáng sản, giao thông vận tải. Mỗi nhánh ghi một đặc điểm, một ví dụ và giá trị sử dụng; thêm mối nối với yêu cầu bảo vệ môi trường. Sơ đồ giúp nhìn đủ các nhóm thay vì chỉ tập trung dầu khí hoặc cá biển.
Bài luyện: Sơ đồ đủ phạm vi
Một sơ đồ đã có sinh vật, du lịch, khoáng sản. Nhánh nào còn thiếu theo bài?
Đúng. Bài còn nêu điều kiện phát triển cảng và giao thông biển.
Dầu mỏ, khí tự nhiên đã thuộc nhánh khoáng sản.
Rong và cá đã thuộc nhánh sinh vật.
Bãi biển, cảnh quan đã thuộc nhánh du lịch.
Lời giải
Sơ đồ theo bài cần đủ sinh vật, du lịch, khoáng sản và giao thông vận tải. Phần giao thông giải thích điều kiện xây cảng, phát triển đường biển.
Tự lập sơ đồ tài nguyên
Lập sơ đồ theo nhiệm vụ SGK trang 154 bằng cách trình bày phù hợp, không nhất thiết chép hình mẫu. Với mỗi nhánh, chọn dẫn chứng đã học và nối một biện pháp sử dụng hợp lí: bảo vệ nơi sống của sinh vật; giữ cảnh quan du lịch; khai thác khoáng sản gắn xử lí tác động; quản lí môi trường cảng và vận tải.
Ví dụ, nhánh sinh vật có thể ghi cá–tôm–rong biển → thực phẩm, nguyên liệu → khai thác hợp lí và bảo vệ hệ sinh thái. Ghi nguồn SGK trang 153–154; nếu thêm ảnh hoặc số liệu ngoài sách, cần nguồn và thời điểm. Đọc lại để bảo đảm không trộn số loài với sản lượng, tên tài nguyên với doanh thu, địa danh hiện hành với bối cảnh quá khứ. Câu luyện không thay việc lập và trình bày sơ đồ.
Bài luyện: Liên hệ tài nguyên và bảo vệ
Chuỗi nào thể hiện đủ tài nguyên → giá trị → sử dụng hợp lí?
Số loài nhiều không bảo đảm khai thác không giới hạn.
Doanh thu không tự có và bảo vệ môi trường vẫn cần.
Phân bố, trữ lượng và điều kiện khai thác khác nhau.
Đúng. Chuỗi có tài nguyên, công dụng và cách sử dụng hợp lí.
Lời giải
Một chuỗi tốt phải nối đúng đối tượng với công dụng và yêu cầu bảo vệ. Rong biển có giá trị nguyên liệu thực phẩm; khai thác cần giữ nguồn lợi và môi trường sống để sử dụng lâu dài.
Đang học