Từ các vương quốc mới đến xã hội phong kiến
Từ thế kỉ III, đế quốc La Mã lâm vào khủng hoảng. Cuối thế kỉ V, các bộ tộc Giéc-man tiến vào lãnh thổ La Mã. Năm 476 là mốc sụp đổ của chính quyền La Mã ở Tây Âu, mở ra thời kì hình thành các vương quốc mới như Phơ-răng, Ăng-glô Xắc-xông, Tây Gốt và Đông Gốt.
Ở Vương quốc Phơ-răng, quý tộc Giéc-man chiếm nhiều ruộng đất của chủ nô La Mã và được phong tước vị. Quý tộc La Mã quy thuận chính quyền mới được giữ ruộng đất. Những lực lượng này dần trở thành lãnh chúa. Nô lệ được giải phóng và nông dân tự do mất ruộng đất trở thành nông nô, phải nhận ruộng và lệ thuộc lãnh chúa.
Vương quốc Phơ-răng mở rộng dưới thời Sác-lơ-ma-nhơ. Sau khi ông mất, vương quốc bị chia thành ba, về sau gắn với sự hình thành Pháp, Đức và I-ta-li-a. Đây là quá trình biến đổi qua nhiều thế kỉ; không phải mọi quan hệ phong kiến đều xuất hiện hoàn chỉnh trong riêng năm 476.
Bài luyện: Đặt sự kiện vào thời gian
Mốc năm 476 được dùng để nhận biết chuyển biến nào trong bài?
Thành thị trung đại ra đời chủ yếu từ cuối thế kỉ XI.
Đúng. Đây là mốc chuyển biến ở Tây Âu cuối thế kỉ V.
Cải cách tôn giáo diễn ra vào thế kỉ XVI.
Quan hệ tư bản chủ nghĩa nảy sinh muộn hơn, trong lòng xã hội phong kiến.
Lời giải
Chọn B. Năm 476 thuộc cuối thế kỉ V, gắn với sự sụp đổ của chính quyền La Mã ở Tây Âu. Từ bối cảnh đó, các vương quốc và quan hệ xã hội mới dần hình thành; không thể gán các biến đổi thế kỉ XI hoặc XVI cho mốc này.
Bài luyện: Đọc nguồn gốc giai cấp
Theo sơ đồ, nhóm nào góp phần hình thành giai cấp lãnh chúa ở Phơ-răng?
Hai nhóm này hình thành nông nô.
Thương nhân là cư dân tiêu biểu của thành thị, không phải hai nhóm trong sơ đồ.
Đúng. Họ có ruộng đất và địa vị trong chính quyền mới.
Sơ đồ không mô tả việc chia đều ruộng cho mọi cư dân.
Lời giải
Chọn C. Quý tộc Giéc-man có ruộng đất chiếm được và tước vị; quý tộc La Mã quy thuận được giữ ruộng đất. Hai nhóm này hình thành giai cấp lãnh chúa. Cần phân biệt với các nhóm trở thành nông nô.
Bài luyện: Giải thích sự lệ thuộc
Vì sao nông dân tự do mất ruộng đất có thể trở thành nông nô?
Đúng. Mất ruộng dẫn tới phải dựa vào ruộng của lãnh chúa.
Địa vị quý tộc không xuất hiện vì mất tư liệu canh tác.
Điều này không giải thích sự hình thành nông nô trong bối cảnh Phơ-răng.
Sở hữu lãnh địa, thu tô là vị thế của lãnh chúa.
Lời giải
Chọn A. Ruộng đất là tư liệu canh tác chính. Khi mất ruộng, nông dân phải nhận ruộng của lãnh chúa, nộp tô, thuế và chịu sự chi phối của lãnh chúa. Đó là mối liên hệ giữa mất ruộng với sự lệ thuộc.
Lãnh địa là một đơn vị kinh tế và chính trị
Đến thế kỉ IX, những vùng đất rộng lớn do lãnh chúa chiếm giữ trở thành lãnh địa phong kiến. Lãnh địa có khu đất của lãnh chúa và ruộng đất giao cho nông nô canh tác, gọi là đất khẩu phần. Lâu đài là nơi ở của lãnh chúa trong lãnh địa; không đồng nhất một lâu đài với toàn bộ lãnh địa.
Lãnh chúa nắm nhiều quyền cai quản, có quân đội, luật lệ, tòa án, chế độ thuế và đo lường riêng. Vì vậy, lãnh địa vừa là đơn vị kinh tế, vừa là đơn vị chính trị cơ bản ở Tây Âu thời kì này.
Kinh tế lãnh địa chủ yếu tự cấp tự túc: nông nghiệp giữ vai trò chính; nông nô làm ra phần lớn lương thực, quần áo và đồ dùng phục vụ đời sống. Một số hàng như sắt, muối hoặc hàng xa xỉ vẫn được mua từ bên ngoài. Tự cấp tự túc nói lên cách đáp ứng phần lớn nhu cầu, không có nghĩa là tuyệt đối không trao đổi.
Bài luyện: Nhận biết lãnh địa
Dẫn chứng nào cho thấy lãnh địa còn là đơn vị chính trị?
Đó là dẫn chứng về hoạt động kinh tế.
Đó là hoạt động trao đổi, chưa thể hiện quyền cai quản.
Nơi ở riêng chưa đủ chứng minh quyền tổ chức chính trị.
Đúng. Những quyền này thể hiện việc cai quản lãnh địa.
Lời giải
Chọn D. Quân đội, luật lệ, tòa án và thuế gắn với quyền cai quản con người và lãnh thổ. Dẫn chứng này làm rõ tính chất chính trị của lãnh địa; trồng trọt, làm đồ dùng hoặc mua muối thuộc đời sống kinh tế.
Bài luyện: Hiểu tự cấp tự túc
Một lãnh địa tự làm phần lớn lương thực và quần áo nhưng vẫn mua muối, sắt. Nhận xét nào phù hợp?
Tự cấp tự túc không đồng nghĩa với tuyệt đối không trao đổi.
Đúng. Cần xét cách đáp ứng phần lớn nhu cầu.
Mua một số hàng không đủ biến lãnh địa thành thành thị.
Dữ kiện cho thấy lãnh địa vẫn tự sản xuất phần lớn lương thực.
Lời giải
Chọn B. Phần lớn nhu cầu do sản xuất trong lãnh địa đáp ứng nên kinh tế vẫn chủ yếu tự cấp tự túc. Việc mua một số hàng còn thiếu là phù hợp với mô tả của SGK, không phủ nhận đặc điểm chính ấy.
Lãnh chúa và nông nô có địa vị khác nhau
Lãnh chúa sống chủ yếu bằng việc bóc lột lao động của nông nô thông qua tô, thuế và các nghĩa vụ. Nông nô là lực lượng sản xuất chính, làm việc trên ruộng của lãnh chúa và canh tác phần ruộng được giao.
Nông nô không hoàn toàn giống nô lệ: họ có gia đình, nhà ở và công cụ riêng. Tuy vậy, họ vẫn bị lệ thuộc vào lãnh chúa. Khi so sánh, cần nhìn cả điều kiện sinh sống lẫn nghĩa vụ, tránh coi nông nô là người hoàn toàn tự do.
Bài luyện: Phân biệt địa vị
Nhận định nào mô tả đúng quan hệ lãnh chúa–nông nô?
Phương án đảo ngược địa vị hai giai cấp.
Có gia đình riêng không xóa bỏ sự lệ thuộc và nghĩa vụ tô, thuế.
Đúng. Phương án nêu cả hoạt động sản xuất và quan hệ lệ thuộc.
Quan hệ phong kiến này có sự bất bình đẳng về sở hữu và địa vị.
Lời giải
Chọn C. Nông nô là lực lượng sản xuất chính nhưng phải nộp tô, thuế và thực hiện các nghĩa vụ. Lãnh chúa chiếm giữ đất, chi phối đời sống nông nô và hưởng lợi từ lao động của họ. Có nhà ở hay gia đình riêng không có nghĩa là hoàn toàn tự do.
Thiên Chúa giáo trong xã hội Tây Âu trung đại
Thiên Chúa giáo ra đời vào đầu Công nguyên tại Giê-ru-sa-lem, do Giê-su sáng lập. Ban đầu, tôn giáo này được những người nghèo khổ, bị áp bức tin theo. Đến thế kỉ IV, Thiên Chúa giáo trở thành quốc giáo của đế quốc La Mã.
Trong xã hội phong kiến Tây Âu, Giáo hội Thiên Chúa giáo có thế lực lớn về kinh tế, chính trị và văn hóa, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần. Giáo hội còn là chỗ dựa của chế độ phong kiến. Vai trò này cần được hiểu trong thời kì lịch sử đang học.
Bài luyện: Sắp xếp mốc lịch sử
Trình tự nào phù hợp với nội dung bài về Thiên Chúa giáo?
Đúng. Ba bước được đặt đúng thời gian.
Không thể trở thành quốc giáo trước khi tôn giáo ra đời.
Mốc ra đời không đúng và trình tự đi ngược thời gian.
Thế kỉ XVI gắn với Cải cách tôn giáo, không phải sự ra đời Thiên Chúa giáo.
Lời giải
Chọn A. Thiên Chúa giáo ra đời đầu Công nguyên, trở thành quốc giáo La Mã vào thế kỉ IV, rồi có ảnh hưởng lớn trong xã hội Tây Âu trung đại. Cần phân biệt mốc ra đời tôn giáo với mốc của những phong trào cải cách về sau.
Bài luyện: Nhận xét có giới hạn
Từ nội dung về Giáo hội, kết luận nào có đủ căn cứ?
Bài nêu Giáo hội có thế lực trên cả hai lĩnh vực ấy.
Dữ kiện chỉ thuộc bối cảnh cụ thể, không đủ khái quát mọi tôn giáo và thời kì.
Hai ý không có mối suy luận đó; ruộng đất chủ yếu do lãnh chúa chiếm giữ.
Đúng. Kết luận giữ đúng đối tượng và bối cảnh lịch sử.
Lời giải
Chọn D. Thông tin trong bài nói về Giáo hội Thiên Chúa giáo ở Tây Âu trung đại. Có thể nhận xét thế lực và vai trò của Giáo hội trong bối cảnh ấy; không thể dùng riêng dữ kiện này để kết luận về mọi tôn giáo ở mọi thời kì.
Đang học