Từ Hoa Lư đến Thăng Long
Sau khi Lê Hoàn mất năm 1005, Lê Long Đĩnh nối ngôi, thi hành nhiều chính sách tàn bạo. Năm 1009, các đại thần và sư sãi tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua, mở đầu nhà Lý.
Năm 1010, Lý Công Uẩn đặt niên hiệu Thuận Thiên và quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đổi tên là Thăng Long. Năm 1054, nhà Lý đổi tên nước thành Đại Việt. Cần phân biệt ba việc: lập triều đại, chuyển kinh đô và đổi quốc hiệu diễn ra ở những thời điểm khác nhau.
Bài luyện: Phân biệt ba sự kiện
Cách sắp xếp nào đúng theo thời gian?
Đúng. Ba mốc gắn với ba việc khác nhau.
Nhà Lý thành lập trước việc dời đô; Đại Việt là quốc hiệu từ 1054.
Hai mốc dời đô và đổi quốc hiệu đã bị đảo.
Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009 và dời đô năm 1010.
Lời giải
Chọn A. Nhà Lý thành lập năm 1009. Sang năm 1010, vua dời đô ra Đại La và đổi tên thành Thăng Long. Quốc hiệu Đại Việt được đặt năm 1054.
Vì sao dời đô ra Đại La?
Chiếu dời đô nêu những thuận lợi của Đại La: vị trí trung tâm, địa thế rộng và bằng phẳng, điều kiện sinh sống thuận lợi. Những đặc điểm ấy phù hợp với việc xây dựng một kinh đô và phát triển đất nước lâu dài. Quyết định dời đô thể hiện tầm nhìn của Lý Công Uẩn về sự phát triển của quốc gia độc lập.
Khi giải thích, cần nối dẫn chứng với nhận xét: địa thế rộng và bằng phẳng → thuận lợi mở mang kinh đô → đáp ứng nhu cầu phát triển. Hình Cấm thành ở trang 53 SGK là hình phục dựng; hình giúp hình dung không gian nhưng không phải ảnh các công trình còn nguyên từ thời Lý.
Bài luyện: Dùng dẫn chứng
Dẫn chứng “địa thế rộng và bằng phẳng” trong Chiếu dời đô hỗ trợ nhận xét nào?
Thuận lợi về địa thế không có nghĩa mọi công trình đã hoàn chỉnh.
Đúng. Nhận xét gắn trực tiếp với đặc điểm địa thế.
Dẫn chứng đang nói về địa thế và khả năng phát triển, không phải quê hương.
Việc chọn kinh đô mới không phủ nhận vai trò phòng thủ của Hoa Lư trước đó.
Lời giải
Chọn B. Một vùng rộng và bằng phẳng tạo điều kiện xây dựng, mở rộng không gian kinh đô. Kết hợp các thuận lợi khác trong Chiếu dời đô, đó là căn cứ cho nhận xét về tầm nhìn phát triển lâu dài.
Chính quyền và luật pháp
Đọc từ trên xuống để thấy các cấp cai quản, không xem sơ đồ là danh sách đầy đủ chức quan.
Vua đứng đầu nhà nước, ngôi vua theo chế độ cha truyền con nối; quan văn, võ giúp việc. Các chức vụ quan trọng thường được giao cho người thân cận. Địa phương có 24 lộ, phủ; ở miền núi có các châu. Dưới đó là hương, huyện và xã. Bộ máy trung ương và địa phương tiếp tục được củng cố.
Năm 1042, nhà Lý ban hành Hình thư, bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta. Đây là mốc về một bộ luật được hệ thống thành văn, không có nghĩa trước đó hoàn toàn chưa có luật lệnh.
Bài luyện: Đọc sơ đồ
Trong sơ đồ giản lược chính quyền thời Lý, cấp nào nằm dưới lộ, phủ và trên xã?
Đó là chức vị giúp vua, không phải cấp hành chính nằm giữa lộ và xã.
Đây là các bộ phận quân đội, không phải các cấp hành chính.
Đúng. Sơ đồ xếp hương, huyện trước cấp xã.
Đây là tên các ban ở trung ương thời Đinh, không phải cấp địa phương trong sơ đồ Lý.
Lời giải
Chọn C. Sơ đồ đi từ vua và quan ở trung ương đến lộ, phủ (châu ở miền núi), rồi hương, huyện và xã. Hương, huyện là đáp án phù hợp với vị trí được hỏi.
Bài luyện: Hiểu mốc luật pháp
Nhận xét nào đúng về việc ban hành Hình thư năm 1042?
Các thời trước đã có luật lệnh; mốc 1042 nói về bộ luật thành văn.
Nhà Trần ban hành Quốc triều hình luật; Hình thư thuộc thời Lý.
Hình thư là bộ luật, còn Đại Việt là tên nước.
Đúng. Cần giữ phạm vi “bộ luật thành văn”.
Lời giải
Chọn D. Hình thư được ban hành dưới thời Lý năm 1042. Từ “bộ luật thành văn” giúp phân biệt việc hệ thống luật thành một bộ với các luật lệnh đã có trước đó.
Quân đội và chính sách đối nội, đối ngoại
Quân đội gồm cấm quân bảo vệ vua và kinh thành, quân địa phương bảo vệ các lộ, phủ và được huy động khi có chiến tranh. Chính sách “ngụ binh ư nông” kết hợp việc làm ruộng với sẵn sàng phục vụ quân đội, giúp gắn sản xuất với bảo vệ đất nước.
Nhà Lý dùng chính sách mềm dẻo với các tù trưởng miền núi, đồng thời kiên quyết xử lí những hành động chia rẽ. Mục đích là củng cố khối đoàn kết và quyền quản lí của triều đình. Với nhà Tống, nhà Lý giữ quan hệ hòa hiếu; với Chăm-pa, kiên quyết chống các cuộc tấn công rồi bình thường hóa quan hệ.
Bài luyện: Giải thích chính sách
“Ngụ binh ư nông” giúp giải quyết đồng thời hai nhu cầu nào?
Đúng. Chính sách kết hợp sản xuất với nhiệm vụ quân sự.
Chính sách gắn nhiệm vụ quân sự với việc làm ruộng, không tách hoàn toàn.
Nhà Lý vẫn có cả cấm quân và quân địa phương.
Chính sách giữ mối gắn bó với sản xuất, không biến toàn bộ nông dân thành quân thường trực.
Lời giải
Chọn A. Lực lượng quân sự gắn với việc làm ruộng và được huy động khi cần. Nhờ đó, đất nước vừa có nguồn lao động sản xuất vừa có lực lượng để bảo vệ.
Bài luyện: Hiểu mục đích đối nội
Kết hợp mềm dẻo với tù trưởng và kiên quyết chống chia rẽ nhằm mục đích chính nào?
Nhà Lý kết hợp mềm dẻo với kiên quyết, không chỉ dùng một cách.
Đúng. Hai cách xử lí cùng hướng tới ổn định, thống nhất.
Mục đích là tăng sự gắn bó, không phải để các vùng tách riêng.
Chính sách miền núi không có nội dung thay toàn bộ bộ máy trung ương.
Lời giải
Chọn B. Chính sách mềm dẻo tạo sự gắn bó với tù trưởng và cư dân miền núi; việc kiên quyết chống chia rẽ bảo vệ sự thống nhất. Cần xét cả hai mặt mới hiểu mục đích đối nội.
Bài luyện: Đọc chú thích hình
Hình Cấm thành được ghi là “phục dựng”. Có thể sử dụng hình thế nào?
Hình phục dựng không biến mọi chi tiết thành chứng cứ quan sát trực tiếp.
Ảnh hiện vật, lược đồ và hình phục dựng có cách khai thác khác nhau.
Đúng. Chú thích xác định tính chất của hình.
Phục dựng khác với ảnh công trình còn nguyên từ thời Lý.
Lời giải
Chọn C. Phải xác định loại hình trước khi nhận xét. Hình phục dựng giúp hình dung không gian nhưng không được mô tả như ảnh kiến trúc nguyên vẹn có từ thế kỉ XI.
Đang học