Ra Bắc và chiến thắng Tốt Động–Chúc Động
Tháng 9/1426, Lê Lợi và bộ chỉ huy quyết định tiến quân ra Bắc. Nghĩa quân được nhân dân ủng hộ, giành thắng lợi; quân Minh phải lui vào thành Đông Quan.
Tháng 10/1426, Vương Thông đưa viện binh đến Đông Quan rồi tấn công nghĩa quân. Ngày 7/11/1426, nghĩa quân mai phục, chặn đánh tại Tốt Động–Chúc Động. Quân Minh thất bại nặng; nghĩa quân giải phóng thêm đất đai và siết vòng vây Đông Quan.
Trận thắng làm thế của nghĩa quân mạnh hơn, đồng thời làm quân trong thành thêm khó khăn. Khi tóm tắt, cần nối trận đánh với chuyển biến sau trận, không chỉ nhớ tên và ngày.
Bài luyện: Nhận biết tác dụng
Thắng lợi Tốt Động–Chúc Động giúp nghĩa quân làm gì?
Khởi nghĩa đã bùng nổ từ 1418, trước trận này.
Nhà Lê sơ thành lập năm 1428 sau thắng lợi.
Nghĩa quân tăng vòng vây, không từ bỏ hoạt động ở phía bắc.
Đúng. Trận thắng tạo điều kiện tăng sức ép lên địch.
Lời giải
Chọn D. Quân Minh bị đánh bại ngoài thành, nghĩa quân mở thêm vùng giải phóng và tăng sức ép lên Đông Quan. Trận thắng là một bước tiến đến kết thúc cuộc chiến.
Đánh viện binh tại Chi Lăng–Xương Giang
Tháng 10/1427, nhà Minh đưa viện binh do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy theo hai hướng Quảng Tây, Vân Nam. Nghĩa quân phục kích tại Chi Lăng, Liễu Thăng bị giết; tiếp đó thắng ở Cần Trạm, Phố Cát và Xương Giang.
Lê Lợi cho gửi ấn tín, tin Liễu Thăng tử trận đến Mộc Thạnh đang đóng ở vùng biên giới Lào Cai ngày nay. Cánh quân này hoảng sợ, rút về nước. Viện binh bị đánh bại khiến quân Minh trong thành mất chỗ dựa quan trọng.
SGK chỉnh lí ghi Chi Lăng thuộc Lạng Sơn, Xương Giang thuộc Bắc Ninh hiện nay. Đây là chú thích định vị; trong diễn biến vẫn dùng tên các địa điểm lịch sử.
Bài luyện: Giải thích vai trò viện binh
Vì sao đánh bại viện binh tạo thêm điều kiện buộc quân trong thành chấp nhận rút?
Đúng. Các mặt trận có quan hệ với nhau.
Kết quả là mất cứu viện, không tăng lực lượng.
Cứu viện là chỗ dựa mà địch trong thành trông đợi.
Nghĩa quân tiếp tục siết vòng vây kết hợp dụ hàng.
Lời giải
Chọn A. Vây thành gây sức ép tại chỗ, đánh viện binh cắt hy vọng được giải vây. Hai hoạt động kết hợp làm quân Minh lâm vào thế khó hơn, hỗ trợ việc dụ hàng và kết thúc chiến tranh.
Bài luyện: Phân biệt các cánh quân
Thông tin nào đúng về hai cánh viện binh năm 1427?
Nghĩa quân phục kích tại Chi Lăng và Liễu Thăng tử trận.
Đúng. Hai cánh không có diễn biến hoàn toàn giống nhau.
Đây là viện binh 1427; bài không nêu kết quả ấy.
Cả Mộc Thạnh và Liễu Thăng đều thuộc quân Minh.
Lời giải
Chọn B. Nghĩa quân đánh cánh Liễu Thăng từ Chi Lăng đến Xương Giang. Tin thất bại tác động đến cánh Mộc Thạnh, khiến chúng rút; cần phân biệt hai hướng viện binh.
Hội thề Đông Quan và quân Minh rút hết
Nghĩa quân tiếp tục vây các thành, đồng thời khéo léo dụ hàng. Ngày 10/12/1427, Lê Lợi và Vương Thông đứng đầu hai phái đoàn tham gia Hội thề Đông Quan, chấm dứt chiến tranh. Đầu tháng 1/1428, quân Minh rút hết về nước, đất nước hoàn toàn giải phóng.
Việc mở đường rút cho địch thể hiện kế sách linh hoạt, tinh thần nhân đạo và giúp hạn chế tổn thất. Ngoại giao đạt hiệu quả trên cơ sở các thắng lợi quân sự và thế vây hãm, không tách rời sức mạnh nghĩa quân.
Lê Lợi giao Nguyễn Trãi soạn Bình Ngô đại cáo, tuyên bố chiến tranh chấm dứt, mở thời kì hòa bình, xây dựng đất nước. Khoảng 1418–1427 là thời gian khởi nghĩa được nêu ở tên bài, còn đầu 1428 là mốc hoàn tất việc rút quân. Hai mốc gắn với những bước khác nhau trong kết thúc chiến tranh.
Bài luyện: Ghép đúng hội thề
Hội thề Đông Quan khác Hội thề Lũng Nhai ở điểm nào?
Hai vai trò đã bị đảo.
Đây là hai sự kiện khác nhau, không thể thay tên tùy ý.
Đúng. Hai hội thề khác hoàn cảnh và mục đích.
Đông Quan diễn ra 1427; nhà Lê sơ ra đời 1428.
Lời giải
Chọn C. Lũng Nhai 1416 kết tụ quyết tâm trước khởi nghĩa; Đông Quan 1427 xác lập việc chấm dứt chiến tranh và rút quân. Phân biệt bối cảnh giúp hiểu ý nghĩa mỗi hội thề.
Bài luyện: Hiểu cách kết thúc
Dụ hàng và cho quân Minh rút về thể hiện điều gì?
Kết quả là quân Minh rút hết và đất nước giải phóng.
Thế thắng quân sự là cơ sở quan trọng cho hoạt động ngoại giao.
Bài nêu nghĩa quân thắng, vây thành và buộc địch rút.
Đúng. Mục tiêu độc lập được giữ.
Lời giải
Chọn D. Kết thúc chiến tranh bằng thỏa thuận rút quân khi đã có ưu thế giúp thực hiện mục tiêu giải phóng, tránh kéo dài tổn thất. Đây là sự kết hợp quân sự với ngoại giao.
Bài luyện: Phân biệt thời điểm
Đầu tháng 1/1428 đánh dấu việc gì?
Đúng. Đây là bước thực hiện sau Hội thề Đông Quan.
Lũng Nhai diễn ra năm 1416.
Cuộc xâm lược nhà Hồ bắt đầu cuối 1406.
Quyết định tiến quân ra Bắc được thực hiện tháng 9/1426.
Lời giải
Chọn A. Hội thề diễn ra 10/12/1427, còn việc rút hết quân hoàn thành đầu 1/1428. Giữ hai mốc để phân biệt thỏa thuận kết thúc chiến tranh với việc rút quân thực tế.
Đọc lược đồ và lập bảng sự kiện
Lược đồ Tốt Động–Chúc Động ở trang 80 và Chi Lăng–Xương Giang ở trang 81 SGK có kí hiệu khác nhau cho tiến công, mai phục, chặn đánh, rút chạy, thành bị vây hoặc bị tiêu diệt. Đọc tên, thời gian và chú giải trước khi kể hướng quân. Đường biên quốc gia ngày nay trong chú giải chỉ giúp định vị.
Khi lập bảng tổng kết, dùng các cột thời gian, sự kiện, kết quả và ý nghĩa. Ví dụ, Tốt Động–Chúc Động là sự kiện; đánh bại quân Minh và siết vây Đông Quan là kết quả, tác động cần nêu kèm. Việc tự lập bảng hoặc chỉ diễn biến trên lược đồ cần làm riêng ngoài các câu lựa chọn.
Bài luyện: Đọc chú giải
Cách nào giúp xác định đúng hướng quân trên lược đồ?
Tên địa danh không đủ để xác định lực lượng và hướng hoạt động.
Đúng. Không suy ý nghĩa chỉ từ một màu.
Lược đồ có nhiều lực lượng và loại hoạt động.
Chú giải phân biệt hai hoạt động.
Lời giải
Chọn B. Mỗi kiểu mũi tên có ý nghĩa trong chú giải. Kết hợp tên trận, thời gian và kí hiệu giúp trình bày đúng diễn biến, tránh đảo tiến công với rút chạy.
Bài luyện: Nối hai mặt đấu tranh
Nhận xét nào đúng về quân sự và ngoại giao cuối khởi nghĩa?
Thế quân sự tạo sức ép và cơ sở cho kết thúc chiến tranh.
Bài nêu rõ vây thành kết hợp đánh viện binh và dụ hàng.
Đúng. Hai hoạt động bổ sung nhau.
Nghĩa quân đã thắng các trận lớn và siết vây thành.
Lời giải
Chọn C. Đánh viện binh cắt chỗ dựa, vây thành làm địch khó khăn. Từ thế có lợi ấy, nghĩa quân dùng ngoại giao để đạt rút quân và giải phóng với tổn thất được hạn chế.
Đang học