Tiến công trước để tự vệ
Nhà Tống chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Trước nguy cơ đó, Lý Thường Kiệt chủ trương “tiến công trước để tự vệ”: đánh vào các căn cứ chuẩn bị chiến tranh của đối phương, rồi rút về bảo vệ đất nước. Mục tiêu tự vệ phải được hiểu cùng diễn biến, không đổi thành ý định chiếm đất lâu dài.
Tháng 10/1075, quân Đại Việt tiến công Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu. Sau khi hạ thành Ung Châu, phá các cơ sở chuẩn bị xâm lược, quân ta rút về. Lược đồ trang 59 SGK ghi hướng rút vào năm 1076; vì vậy không gộp toàn bộ hoạt động này thành một thời điểm trong năm 1075.
Bài luyện: Hiểu chủ trương
Mục đích của chủ trương “tiến công trước để tự vệ” là gì?
Đúng. Mục tiêu được thể hiện qua đánh căn cứ và rút quân.
Sau khi đạt mục tiêu, quân Đại Việt rút về chuẩn bị phòng thủ.
Chủ trương thể hiện sự chủ động trước cuộc xâm lược.
Rút về là để tiếp tục chuẩn bị bảo vệ đất nước.
Lời giải
Chọn A. Các căn cứ chuẩn bị xâm lược bị tiến công, sau đó quân ta rút về lập thế phòng thủ. Chuỗi hoạt động cho thấy mục tiêu tự vệ, làm giảm khả năng tiến công của nhà Tống.
Chuẩn bị thế phòng thủ
Sau khi rút quân, nhà Lý bố trí lực lượng chặn địch ở biên giới; thủy quân bảo vệ vùng biển Đông Bắc để ngăn thủy quân Tống. Trên bộ, Lý Thường Kiệt xây dựng phòng tuyến ở bờ nam sông Như Nguyệt, một đoạn của sông Cầu, nhằm chặn đường tiến về Thăng Long.
Phòng tuyến không đứng riêng lẻ: lực lượng ở biên giới, thủy quân và quân bộ phối hợp ngăn các cánh quân địch. Cách tổ chức ấy giúp bảo vệ nơi trọng yếu và hạn chế khả năng quân Tống hỗ trợ nhau.
Bài luyện: Nhận biết phòng tuyến
Phòng tuyến Như Nguyệt của nhà Lý được xây ở đâu?
Quân ta giữ bờ nam; quân Tống bị chặn ở phía bắc.
Đúng. Đây là vị trí phòng thủ chặn đường bộ.
Quân ta đã rút về sau khi đánh các căn cứ của Tống.
Phòng tuyến chính được xây ở bờ nam Như Nguyệt.
Lời giải
Chọn B. Như Nguyệt là một đoạn sông Cầu. Nhà Lý bố trí phòng tuyến ở bờ nam để cản quân Tống từ phía bắc tiến về Thăng Long.
Bài luyện: Giải thích sự phối hợp
Thủy quân nhà Lý chặn thủy quân Tống ở Đông Bắc có tác dụng nào?
Chặn thủy quân không thay thế đợt phản công của quân ta.
Tác dụng là ngăn sự phối hợp của địch, không giúp chúng hội quân.
Đúng. Hoạt động trên biển liên hệ với thế phòng thủ trên bộ.
Quân bộ vẫn phải phòng thủ và chiến đấu tại Như Nguyệt.
Lời giải
Chọn C. Quân Tống dự định phối hợp quân bộ và thủy. Khi thủy quân bị chặn, quân bộ mất sự hỗ trợ dự kiến, góp phần tạo khó khăn cho cuộc tiến công.
Chiến đấu trên sông Như Nguyệt
Năm 1077, quân bộ Tống do Quách Quỳ chỉ huy tiến vào Đại Việt, còn thủy quân do Hòa Mâu chỉ huy. Thủy quân Tống bị chặn; quân bộ đến bờ bắc Như Nguyệt nhưng các đợt vượt sông đều bị quân ta đẩy lùi.
Cuối xuân 1077, Lý Thường Kiệt tổ chức phản công ban đêm, đưa quân vượt sông đánh vào nơi địch đóng, gây tổn thất lớn. Khi quân Tống đã lâm vào khó khăn, ông chủ động giảng hòa. Nhà Tống chấp nhận và rút quân. Đại Việt bảo vệ được nền độc lập.
SGK kể câu chuyện Nam quốc sơn hà vang lên ở đền bên sông với cách nói “tương truyền”. Cần giữ tính chất lưu truyền của câu chuyện; không từ đó khẳng định chắc tác giả hoặc người trực tiếp đọc bài thơ.
Bài luyện: Nối diễn biến chính
Trình tự nào phù hợp với cuộc kháng chiến?
Giảng hòa diễn ra sau khi quân Tống bị đánh và lâm vào khó khăn.
Quân ta rút về xây dựng thế phòng thủ, không chiếm Ung Châu lâu dài.
Các đợt vượt sông bị đẩy lùi; phản công diễn ra trước việc Tống rút.
Đúng. Các bước thể hiện sự chủ động qua cả cuộc chiến.
Lời giải
Chọn D. Tiến công căn cứ làm giảm sự chuẩn bị của Tống; phòng thủ Như Nguyệt chặn cuộc xâm lược; phản công gây tổn thất rồi giảng hòa để kết thúc chiến tranh và bảo vệ độc lập.
Bài luyện: Giải thích cách kết thúc
Vì sao chủ động giảng hòa sau thắng lợi phản công là cách kết thúc phù hợp?
Đúng. Giảng hòa được đề nghị từ thế có lợi.
Kết quả cuộc kháng chiến là bảo vệ được nền độc lập.
Quân Tống bị chặn ở Như Nguyệt và lâm vào khó khăn.
Giảng hòa có hiệu quả gắn với thế thắng do chuẩn bị, chiến đấu tạo ra.
Lời giải
Chọn A. Lý Thường Kiệt chủ động giảng hòa khi địch đã tổn thất và khó khăn. Kết thúc như vậy đạt mục tiêu giữ độc lập, hạn chế tiếp tục đổ máu và tạo điều kiện duy trì quan hệ giữa hai nước.
Bài luyện: Phân biệt tính chất tư liệu
Câu chuyện bài thơ vang lên bên sông được SGK mở bằng “tương truyền”. Cách trình bày nào phù hợp?
Một câu chuyện lưu truyền không thay được các diễn biến đã trình bày.
Đúng. Không bỏ nhãn xác định tính chất câu chuyện.
Nguồn không đưa chứng cứ như vậy.
Không được biến chi tiết chưa xác định thành sự kiện chắc chắn.
Lời giải
Chọn B. Từ “tương truyền” báo cho người đọc biết tính chất của thông tin. Có thể khai thác ý thức độc lập được bài thơ thể hiện nhưng phải giữ cách nói thận trọng về câu chuyện và không tự gán tác giả.
Đọc lược đồ và đánh giá vai trò
Với lược đồ trang 59 và 61, trước hết đọc tên, thời gian, chú giải; sau đó phân biệt mũi tên tiến công, rút quân và vị trí phòng tuyến. Tên địa danh đương thời dùng để theo dõi sự kiện; đường biên hiện nay nếu có là thông tin định vị, không đồng nhất với ranh giới thời Lý.
Đánh giá Lý Thường Kiệt cần nêu việc làm và tác dụng: chủ động tiến công căn cứ → làm giảm sự chuẩn bị của Tống; xây phòng tuyến, phối hợp lực lượng → chặn địch; chọn thời cơ phản công và giảng hòa → kết thúc chiến tranh, giữ độc lập. Một lời khen chung không thay cho các dẫn chứng ấy.
Bài luyện: Đánh giá bằng việc làm
Cặp việc làm – tác dụng nào đúng khi đánh giá Lý Thường Kiệt?
Giảng hòa giúp kết thúc chiến tranh và giữ độc lập.
Hoạt động này làm địch khó phối hợp thủy, bộ.
Đúng. Việc làm và tác dụng khớp nhau.
Rút về là để chuẩn bị phòng thủ.
Lời giải
Chọn C. Phòng tuyến ở bờ nam Như Nguyệt bảo vệ hướng tiến đến Thăng Long. Nêu đúng việc làm cùng tác dụng giúp đánh giá vai trò nhân vật có căn cứ.
Bài luyện: Đọc kí hiệu trước khi kể
Khi hai mũi tên trên lược đồ có dạng khác nhau, cần làm gì trước khi kết luận?
Mũi tên có thể chỉ các lực lượng và hoạt động khác nhau.
Địa danh hiện nay không thay cho chú giải và thời gian của sự kiện.
Phải đọc đúng nguồn thay vì sửa kí hiệu theo trí nhớ.
Đúng. Ý nghĩa kí hiệu do chú giải xác định.
Lời giải
Chọn D. Lược đồ dùng kí hiệu để phân biệt tiến, rút và các lực lượng. Đọc chú giải trước giúp kể đúng sự kiện; cần đối chiếu thêm thời gian, địa danh trong bài.
Đang học