Vi-giay-a mở ra thời kì mới
Năm 988, một quý tộc người Chăm lập Vương triều Vi-giay-a. Kinh đô chuyển về Vi-giay-a, còn gọi là Đồ Bàn hoặc Chà Bàn, ở khu vực thuộc tỉnh Gia Lai hiện nay. Đây là bước chuyển trong lịch sử Vương quốc Chăm-pa đã hình thành từ trước, không phải thời điểm Chăm-pa mới ra đời.
Khi học tiến trình, cần phân biệt tên vương quốc, tên vương triều và kinh đô. Vương quốc là phạm vi nhà nước được tìm hiểu; vương triều gắn với dòng vua cai trị; kinh đô là nơi đặt trung tâm chính quyền.
Bài luyện: Phân biệt sự kiện
Sự kiện nào gắn với năm 988?
Đúng. Đây là bước chuyển của Chăm-pa đã tồn tại từ trước.
Vương quốc đã có từ trước thế kỉ X; năm 988 gắn với vương triều và kinh đô mới.
Đó là chuyển biến gắn với năm 1471 và giai đoạn sau.
Đó là giai đoạn muộn hơn năm 988.
Lời giải
Chọn A. Năm 988 mở đầu Vương triều Vi-giay-a, kinh đô cũng chuyển về Vi-giay-a. Không đồng nhất việc lập một vương triều mới với sự hình thành ban đầu của cả vương quốc.
Nhận ra chiều hướng thay đổi
Các giai đoạn nổi bật có chiều hướng khác nhau.
Trong giai đoạn 988–1220, Chăm-pa gặp nhiều khó khăn do chiến tranh với Chân Lạp và xung đột với Đại Việt. Năm 1069, vua Chăm-pa cắt ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh cho Đại Việt; theo SGK chỉnh lí, các địa bàn ấy thuộc tỉnh Quảng Trị hiện nay. Cuộc chiến tranh kéo dài với Chân Lạp khoảng 1113–1220 khiến Chăm-pa hai lần bị chiếm đóng.
Từ 1220 đến 1353, Chăm-pa thoát khỏi ách đô hộ của Chân Lạp, củng cố chính quyền, mở rộng và thống nhất lãnh thổ. Đây là thời kì thịnh đạt. Đến cuối thế kỉ XIV–1471, Vương triều Vi-giay-a khủng hoảng, suy yếu rồi sụp đổ. Từ 1471 đến đầu XVI, lãnh thổ Chăm-pa thu hẹp nhiều phần và chia thành nhiều tiểu quốc.
Sơ đồ chọn các giai đoạn nổi bật theo SGK. Đọc nhãn từng ô để thấy sự thay đổi từ khó khăn đến thịnh đạt rồi suy yếu; khoảng cách giữa các ô không dùng để đo số năm.
Bài luyện: Đọc giai đoạn
Dẫn chứng nào phù hợp với nhận xét Chăm-pa thịnh đạt trong giai đoạn 1220–1353?
Sự kiện thuộc giai đoạn 988–1220.
Đúng. Dẫn chứng thể hiện sự phục hồi và phát triển.
Dẫn chứng này thuộc chuyển biến từ năm 1471, không phải giai đoạn thịnh đạt.
Đó là khó khăn của giai đoạn trước.
Lời giải
Chọn B. Muốn chứng minh thịnh đạt phải chọn dẫn chứng cùng thời điểm và thể hiện sự phát triển. Việc giành lại độc lập, củng cố chính quyền, thống nhất lãnh thổ phù hợp với giai đoạn 1220–1353.
Bài luyện: Phân biệt vương triều và cư dân
Nhận xét nào phù hợp về chuyển biến năm 1471 và thời gian sau đó?
Việc chuyển kinh đô gắn với năm 988.
Thay đổi chính quyền không chứng minh cộng đồng cư dân, văn hóa biến mất.
Đúng. Sự sụp đổ vương triều không đồng nghĩa mọi hoạt động của cư dân chấm dứt.
Giai đoạn sau 1471 được SGK mô tả là thu hẹp và chia thành tiểu quốc.
Lời giải
Chọn C. SGK nêu Vi-giay-a khủng hoảng rồi sụp đổ, sau đó lãnh thổ Chăm-pa thu hẹp và chia thành nhiều tiểu quốc. Đó là chuyển biến chính trị; không thể từ đó suy ra cư dân và văn hóa chấm dứt.
Bài luyện: Theo dõi tiến trình
Thứ tự nào đúng theo các giai đoạn được chọn trong sơ đồ?
Các giai đoạn và sự kiện bị đặt đảo thứ tự thời gian.
Việc chia thành tiểu quốc thuộc giai đoạn sau 1471.
Giai đoạn thịnh đạt 1220–1353 diễn ra trước cuối thế kỉ XIV.
Đúng. Cần ghép chiều hướng với từng giai đoạn.
Lời giải
Chọn D. Theo nhãn thời gian, giai đoạn khó khăn 988–1220 đứng trước thời kì thịnh đạt 1220–1353. Sau đó là khủng hoảng cuối XIV–1471 và chuyển biến thu hẹp, chia thành tiểu quốc từ 1471.
Đọc lược đồ có nhiều lớp thời gian
Mở hình 2 trang 91 SGK. Trước hết đọc tên hình và chú giải: nét kẻ tím biểu thị lãnh thổ Chăm-pa thế kỉ X, màu xanh biểu thị lãnh thổ cuối XV. Kí hiệu kinh đô đến cuối X khác kí hiệu kinh đô từ cuối X đến 1471; tháp và thương cảng có kí hiệu riêng.
Đối chiếu từng kí hiệu với vị trí, rồi nhận xét lãnh thổ cuối XV thu hẹp so với thế kỉ X. Dùng kí hiệu kinh đô để nhận ra sự chuyển trung tâm về Vi-giay-a; không chỉ nhìn màu lãnh thổ để đoán nơi đặt kinh đô.
Lược đồ còn ghi đường biên quốc gia ngày nay, địa danh hiện nay trong ngoặc và khung định vị Việt Nam. Các thông tin này giúp xác định vị trí hiện nay; chúng không thay thế ranh giới lịch sử. Chẳng hạn, “Vi-giay-a” là tên kinh đô xưa, còn “An Nhơn – Gia Lai” là chú thích giúp định vị ngày nay.
Bài luyện: Đọc đúng kí hiệu
Trong lược đồ SGK, muốn so sánh lãnh thổ Chăm-pa thế kỉ X với cuối XV, cần làm gì?
Đúng. Mỗi cách biểu thị gắn với một thời điểm.
Đường biên ngày nay thuộc lớp thông tin hiện tại, không thay ranh giới lịch sử.
Tháp và kinh đô có kí hiệu riêng; chức năng không đồng nhất.
Kí hiệu kinh đô cho biết vị trí trung tâm; so sánh lãnh thổ phải đọc các vùng biểu thị tương ứng.
Lời giải
Chọn A. Chú giải gắn nét kẻ tím với thế kỉ X và màu xanh với cuối XV. Đọc đúng hai lớp lãnh thổ mới có căn cứ so sánh, đồng thời tách đường biên hiện nay khỏi thông tin lịch sử.
Bài luyện: Tách tên xưa và nay
Cách hiểu nào đúng về chú thích “Vi-giay-a (An Nhơn – Gia Lai)” trên lược đồ?
Địa danh định vị không chứng minh phạm vi hai đơn vị trùng nhau.
Đúng. Hai tên phục vụ hai bối cảnh thời gian.
Gia Lai ở đây là địa danh hiện nay, không phải tên vương triều.
Vi-giay-a là kinh đô lịch sử; không đồng nhất với đơn vị hành chính hiện nay.
Lời giải
Chọn B. Tên lịch sử xác định đối tượng đang học, tên trong ngoặc giúp tìm vị trí trên không gian hiện nay. Chúng không có nghĩa tên gọi, chức năng hay phạm vi hành chính giống nhau.
Bài luyện: Ghép thời điểm với địa bàn
Theo bài, thông tin nào đúng về ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh?
Bài không nêu quan hệ này; năm 1069 mới gắn với việc cắt ba châu.
Quảng Trị là chú thích địa bàn hiện nay trong bài, không thay tên ba châu đương thời.
Đúng. Sự kiện xưa và chú thích hiện nay được phân biệt.
Đây là sự nhầm ba châu với kinh đô Vi-giay-a.
Lời giải
Chọn C. SGK nêu sự kiện cắt ba châu cho Đại Việt năm 1069 và chú thích vị trí thuộc Quảng Trị hiện nay. Cần giữ cả mốc sự kiện, tên ba châu và vai trò định vị của tên hiện đại.
Đang học