Nước không chỉ có ở sông và biển
Thủy quyển là toàn bộ lớp nước trên Trái Đất: nước trong biển, đại dương, sông, hồ, đầm lầy; nước dưới đất; băng, tuyết và hơi nước trong khí quyển. Nước có ở trên bề mặt, trong vỏ Trái Đất và trong không khí, dưới các trạng thái lỏng, rắn, hơi.
Theo hình 1 SGK trang 156, nước mặn chiếm khoảng 97,5%, nước ngọt khoảng 2,5% tổng lượng nước. Nước mặn tập trung chủ yếu ở biển và đại dương. Nước ngọt rất cần cho sinh hoạt, sản xuất nhưng chỉ chiếm phần nhỏ.
Bài luyện: Giữ đủ các nơi có nước
Danh sách nào gồm các thành phần của thủy quyển?
Danh sách còn thiếu nước ngầm và băng tuyết.
Thủy quyển còn có nước rắn và hơi nước.
Danh sách giữ cả nước mặt, nước dưới đất, nước rắn và hơi.
Nước mặn cũng là thành phần chủ yếu của thủy quyển.
Lời giải
Chọn C. Thủy quyển gồm toàn bộ nước chứ không chỉ nước lỏng hoặc nước ngọt sử dụng được. Vì thế cần giữ cả nước biển, nước trên lục địa, nước dưới đất, băng tuyết và hơi nước trong khí quyển.
Đọc tỉ lệ theo đúng phạm vi
Hình minh họa có hai phạm vi tính. Thanh trên lấy toàn bộ nước Trái Đất là 100%. Các thanh dưới chỉ xét riêng nước ngọt là 100%: băng chiếm 68,7%, nước dưới đất 30,1%, nước mặt và nước khác 1,2%.
Ví dụ, 68,7% cho biết băng chiếm phần lớn lượng nước ngọt; không có nghĩa băng chiếm 68,7% toàn bộ nước Trái Đất. Cũng không dùng các tỉ lệ lượng nước này để nói phần trăm diện tích mặt đất được nước bao phủ.
Bài luyện: Hiểu số 68,7%
Theo hình, băng chiếm 68,7% của lượng nào?
Ba thanh dưới cùng lấy riêng nước ngọt làm 100%.
Toàn thủy quyển là phạm vi của thanh trên.
Băng đang được xét trong phần nước ngọt.
Các số trong hình nói lượng nước, không phải diện tích.
Lời giải
Chọn A. Đọc tiêu đề của nhóm thanh dưới: “Chỉ riêng nước ngọt = 100%”. Do đó 68,7% có mẫu số là tổng nước ngọt, không phải toàn thủy quyển hay diện tích bề mặt.
Lần theo các mũi tên
Nước không ngừng vận động và chuyển trạng thái. Đại dương, lục địa và khí quyển liên hệ với nhau qua vòng tuần hoàn nước. Có thể bắt đầu đọc sơ đồ từ bốc hơi và thoát hơi: nước thành hơi trong không khí, ngưng tụ tạo mây, rồi mưa xuống.
Mưa rơi trực tiếp xuống biển đưa nước trở lại đại dương. Mưa xuống lục địa có thể chảy vào sông, hồ; thấm vào đất thành nước dưới đất; hoặc được giữ lại dưới dạng băng, tuyết ở nơi lạnh. Dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm đưa nước về đại dương. Nước ở sông, hồ, đất và sinh vật cũng có thể tiếp tục bốc hơi hoặc thoát hơi.
Sơ đồ là một cách khái quát các quá trình, không có nghĩa mọi phần nước đều đi qua tất cả các ô theo cùng một đường. Khi đọc hình 2 trong SGK trang 157, chỉ rõ nơi có nước, quá trình và hướng mũi tên để mô tả mối liên hệ.
Bài luyện: Phân biệt chuyển trạng thái
Nước lỏng ở mặt hồ thành hơi nước đi vào không khí là quá trình nào?
Ngưng tụ chuyển hơi thành hạt nước lỏng.
Đông đặc chuyển nước lỏng thành rắn.
Tan chảy chuyển rắn thành lỏng.
Bốc hơi chuyển nước lỏng thành hơi.
Lời giải
Chọn D. Xác định trạng thái đầu và cuối: lỏng ở hồ → hơi trong không khí. Đó là bốc hơi. Khi hơi nước chuyển lại thành hạt nước nhỏ mới là ngưng tụ.
Bài luyện: Theo nước xuống lục địa
Nhận xét nào đúng về nước mưa rơi xuống lục địa?
Nước còn có thể được giữ lại hoặc thấm xuống.
Nước có nhiều con đường tiếp tục vận động và lưu giữ.
Nước ngầm chỉ là một trong các con đường.
Nước có thể tiếp tục bốc hơi hoặc thoát hơi.
Lời giải
Chọn B. Sau mưa, nước có thể chảy mặt, thấm xuống hoặc được giữ lại ở các nguồn nước. Một phần lại vào khí quyển. Vòng tuần hoàn có nhiều con đường, không chỉ một tuyến ra biển ngay lập tức.
Bài luyện: Xác định sự tham gia
Vì sao nước sông, hồ tham gia vòng tuần hoàn lớn của nước?
Các quá trình nối nước sông, hồ với khí quyển và nguồn nước khác.
Hồ không được định nghĩa bằng việc trực tiếp thông biển.
Nước ngọt cũng bốc hơi.
Sông, hồ có nhận và trao đổi nước.
Lời giải
Chọn A. Sông, hồ vừa nhận nước mưa, vừa có nước bốc hơi, thấm hoặc chảy đi. Các trao đổi đó liên kết sông, hồ với những phần khác của thủy quyển, nên chúng tham gia vòng tuần hoàn lớn.
Nước tuần hoàn vẫn cần được bảo vệ
Nước tuần hoàn không có nghĩa nước sạch cho sinh hoạt luôn sẵn có ở mọi nơi. Nước ngọt chỉ chiếm phần nhỏ; nếu nguồn nước bị ô nhiễm, lượng nước có thể sử dụng sẽ giảm và việc cung cấp nước gặp khó khăn.
Sử dụng tiết kiệm, không xả rác và chất thải chưa xử lí vào nguồn nước giúp bảo vệ tài nguyên nước. Khi tìm hiểu một nguồn nước ở địa phương, ghi nơi, thời điểm và nguồn thông tin; phân biệt điều đã quan sát với nhận định cần kiểm chứng. Không chỉ dựa vào màu trong để kết luận nước uống được.
Bài luyện: Hiểu giới hạn của vòng tuần hoàn
Ý kiến nào phù hợp với việc bảo vệ nước?
Vòng tuần hoàn không cho phép xả chất thải gây ô nhiễm.
Nước ngọt dùng được có giới hạn theo nơi và điều kiện.
Cần phân biệt nước tồn tại trong tự nhiên với nguồn nước sử dụng được.
Nhìn màu không đủ đánh giá chất lượng nước.
Lời giải
Chọn C. Vòng tuần hoàn mô tả sự vận động của nước. Khả năng dùng nước còn phụ thuộc nơi có nước, lượng và chất lượng. Vì vậy vẫn phải tiết kiệm và bảo vệ nguồn, không coi tuần hoàn là bảo đảm nước sạch vô hạn.
Đang học