Độ cao luôn cần mốc đo
Độ cao tuyệt đối là khoảng cách theo chiều thẳng đứng từ một điểm đến mực nước biển trung bình. Độ cao tương đối là khoảng cách theo chiều thẳng đứng từ một điểm ở trên cao đến một điểm khác ở dưới thấp.
Ví dụ minh họa: đỉnh một ngọn núi cao 800 m so với mực nước biển, chân núi cao 300 m so với mực nước biển. Độ cao tuyệt đối của đỉnh là 800 m; độ cao của đỉnh so với chân là 800 − 300 = 500 m. Hai số dùng hai mốc khác nhau, nên không thể đổi chỗ.
Bài luyện: Tính theo đúng mốc
Một đỉnh cao 900 m, chân núi cao 250 m so với mực nước biển. Đỉnh cao hơn chân núi bao nhiêu mét? Số liệu minh họa.
900 m là độ cao của đỉnh so với mực nước biển.
Cần lấy hiệu, không cộng hai độ cao.
900 − 250 = 650 m.
250 m là độ cao chân núi so với mực nước biển.
Lời giải
Chọn C. Hai điểm đều có độ cao tính từ mực nước biển, nên lấy 900 − 250 = 650 m. Đây là độ cao tương đối của đỉnh so với chân đã cho.
Kết hợp độ cao với hình dạng
Không chỉ nhìn một con số. Cần biết mốc đo và hình dạng bề mặt để phân biệt các dạng địa hình.
| Dấu hiệu | Núi | Đồi |
|---|---|---|
| Độ cao | Từ 500 m trở lên so với mực nước biển | So với vùng xung quanh thường không quá 200 m |
| Hình dạng | Nhô cao rõ; thường đỉnh nhọn, sườn dốc | Đỉnh tròn, sườn thoải |
| Dấu hiệu | Cao nguyên | Đồng bằng |
|---|---|---|
| Độ cao | Thường trên 500 m so với mực nước biển | Hầu hết dưới 200 m so với mực nước biển |
| Hình dạng | Mặt khá phẳng hoặc gợn sóng; sườn dốc, có nơi thành vách | Mặt khá phẳng hoặc hơi gợn sóng |
Các từ “thường”, “hầu hết” chỉ đặc điểm phổ biến. Không biến chúng thành quy tắc không có ngoại lệ. Mốc của đồi trong bảng là vùng xung quanh, khác mốc mực nước biển ở các hàng khác.
Bài luyện: Mốc đo của đồi
Đặc điểm “thường không quá 200 m” của đồi được đo so với mốc nào trong bài?
Đây là độ cao tương đối so với xung quanh.
Tâm Trái Đất không phải mốc đo đồi của bài.
Đặc điểm này dùng mốc xung quanh, không phải mực biển.
Bài không lấy đỉnh một núi khác làm mốc của đặc điểm này.
Lời giải
Chọn A. Bảng nêu đồi nhô cao so với vùng đất xung quanh, thường không quá 200 m. Phải giữ mốc đó khi so sánh; không thay bằng mực nước biển.
Bài luyện: So sánh hình dạng
Cặp mô tả nào phù hợp với đặc điểm phổ biến của núi và đồi?
Phương án đã đảo đặc điểm phổ biến và dùng chữ “luôn” không phù hợp.
Núi và đồi đều nhô cao so với xung quanh.
Độ cao phải đọc cùng mốc và đặc điểm hình dạng.
Đây là cách phân biệt hình dạng ở mức SGK.
Lời giải
Chọn D. Núi nhô cao rõ, thường có đỉnh nhọn và sườn dốc; đồi có đỉnh tròn, sườn thoải. Khi kết luận vẫn cần đọc thêm độ cao và mốc đo.
Cùng khá bằng phẳng nhưng khác độ cao
Cao nguyên và đồng bằng đều có thể có bề mặt khá bằng phẳng hoặc gợn sóng. Điểm khác cần đọc thêm là độ cao so với mực nước biển và sườn tiếp giáp vùng xung quanh. Cao nguyên thường ở trên cao, có sườn dốc; đồng bằng là dạng địa hình thấp.
Ví dụ minh họa: một vùng rộng có mặt tương đối bằng phẳng ở độ cao 700 m, rìa dốc xuống vùng thấp phù hợp đặc điểm cao nguyên. Không gọi đó là đồng bằng chỉ vì mặt khá phẳng; cũng không gọi là núi chỉ vì cao trên 500 m.
Bài luyện: Dùng đủ dấu hiệu
Một vùng rộng có mặt khá bằng phẳng ở độ cao 700 m so với mực biển, rìa dốc xuống vùng thấp. Dạng địa hình phù hợp nhất là gì? Dữ kiện minh họa.
Đồng bằng là dạng thấp; không chỉ dựa vào mặt phẳng.
Mặt cao, khá phẳng và rìa dốc phù hợp cao nguyên.
Dữ kiện mô tả vùng mặt cao rộng, không phải một đồi tròn.
Đề không có đỉnh nhọn, sườn núi như phương án mô tả.
Lời giải
Chọn B. Kết hợp ba dấu hiệu: cao 700 m so với mực biển, mặt khá bằng phẳng và rìa dốc. Đây là đặc điểm cao nguyên; độ cao trên 500 m riêng lẻ chưa đủ gọi là núi.
Bài luyện: Cao nguyên và đồng bằng
Nhận xét nào đúng theo bài?
Cao nguyên cũng có thể khá bằng phẳng.
SGK nêu cao nguyên có thể gợn sóng.
Phải kết hợp hình dạng, độ cao và sườn.
Đồng bằng là dạng thấp, không luôn cao hơn cao nguyên.
Lời giải
Chọn C. Sự khá bằng phẳng là điểm có thể giống nhau. Cao nguyên thường cao trên 500 m và có sườn dốc; hầu hết đồng bằng thấp dưới 200 m. Cần đọc đủ dấu hiệu, giữ các từ chỉ mức phổ biến.
Dùng ảnh để củng cố nhận biết
Mở SGK trang 135–136: so ảnh núi An-pơ với ảnh đồi, ảnh cao nguyên Pa-ta-gô-ni với ảnh đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Quan sát đỉnh, sườn và bề mặt rộng hay hẹp; đối chiếu chú thích để biết dạng địa hình. Ảnh phối cảnh không tự cung cấp chính xác độ cao so với mực biển.
Khi sưu tầm ảnh địa hình ở Việt Nam, giữ tên nguồn, chú thích và địa điểm đã kiểm. Chọn các ảnh làm rõ khác biệt hình dạng; nếu nêu địa chỉ hành chính hiện nay, cần nguồn cập nhật đúng phạm vi sau sắp xếp. Không tự đổi địa chỉ tỉnh trong ảnh cũ rồi coi ảnh, số liệu thuộc đơn vị mới.
Bài luyện: Giới hạn của ảnh
Một ảnh chụp thể hiện rõ bề mặt khá bằng phẳng nhưng không có độ cao hoặc chú thích. Kết luận nào thận trọng và phù hợp?
Cao nguyên cũng có thể có mặt khá phẳng.
Độ rộng trong ảnh không xác định độ cao so với biển.
Ảnh phối cảnh không thay cho dữ liệu độ cao.
Dữ kiện đang thiếu để phân biệt hai dạng có hình dạng gần nhau.
Lời giải
Chọn D. Mặt khá phẳng có ở cả cao nguyên và đồng bằng. Cần thêm độ cao so với mực nước biển, đặc điểm sườn hoặc chú thích nguồn; không tự suy độ cao từ ảnh phối cảnh.
Đang học