btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Thời Nguyễn: mĩ thuật và âm nhạc

Lưu trên thiết bị này
Lịch sử nghệ thuật truyền thống Việt Nam · Chọn bài khác

Cung đình và dân gian có quan hệ

Một cấu kiện sơn son thếp vàng và một bức tranh dân gian có cách biểu đạt khác nhau nhưng cùng thuộc đời sống nghệ thuật. Thời Nguyễn, nghệ nhân, kĩ thuật và cảm hứng có sự giao lưu giữa không gian cung đình với cộng đồng.

Mĩ thuật đa dạng và tiếp biến

Mĩ thuật thời Nguyễn gồm mĩ thuật cung đình và mĩ thuật dân gian. Trong cung điện, đền đài, lăng tẩm, các cấu kiện gỗ thường được sơn son thếp vàng, tạo vẻ rực rỡ và trang nghiêm. Tranh Cửu Long ẩn vân trên trần lăng Khải Định là một ví dụ về cách tạo hình rồng và trang trí không gian. Mĩ thuật dân gian tiếp tục phát triển các dòng tranh đã có, đồng thời có dòng tranh Làng Sình ở Huế. Hoạt động trang trí đình, chùa, nhà thờ họ và sản phẩm thủ công cho thấy nghệ thuật hiện diện ngoài cung đình. Theo SGK, một số bức vẽ trên công trình kiến trúc còn thể hiện ảnh hưởng hội hoạ phương Tây. Điểm mới cần phân tích là sự tác động qua lại giữa dân gian và cung đình. Nghệ nhân từ cộng đồng tham gia trang trí cung điện, lăng tẩm; hình thức, kĩ thuật cung đình cũng ảnh hưởng một số công trình quanh Huế. Vì vậy, phân loại hai không gian giúp tìm hiểu đặc điểm, nhưng không nên coi đó là hai thế giới không liên hệ.

Âm nhạc cung đình, dân gian và Nhã nhạc

Âm nhạc cung đình phục vụ nghi lễ và đời sống triều đình, được tổ chức quy củ với dàn nhạc, nhạc khí, tiết mục ca múa và người biểu diễn. Dưới thời Nguyễn, dòng nhạc này phát triển ở trình độ cao, có tính bác học và khả năng biến hoá trong trình diễn. Nhã nhạc gắn với các lễ thức quan trọng của cung đình. Các dàn Đại nhạc, Tiểu nhạc có thành phần và cách sử dụng phù hợp từng dịp. Khi nhận xét âm nhạc, cần xét chức năng, tổ chức trình diễn và đặc điểm nghệ thuật, không chỉ trang phục lộng lẫy của người diễn. SGK ghi mốc năm 2003 Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO ghi danh là Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Đây là sự ghi nhận giá trị một di sản đã có quá trình phát triển lâu dài, không phải năm thể loại âm nhạc ấy ra đời. Âm nhạc dân gian tiếp tục phát triển với lí, hò, hát bội và những hình thức truyền thống khác. Ca Huế thể hiện sự giao thoa nhất định giữa âm nhạc cung đình và dân gian. Sự kết hợp không làm mọi loại hình có cùng chức năng: một buổi ca Huế và một nghi lễ cung đình vẫn cần được tìm hiểu trong bối cảnh riêng. | Mặt | Dẫn chứng và ý nghĩa | |---|---| | Mĩ thuật | Sơn son thếp vàng, tranh cung đình và tranh dân gian cho thấy sự đa dạng biểu đạt. | | Âm nhạc | Tổ chức dàn nhạc, tiết mục phục vụ nghi lễ thể hiện tính quy củ, bác học. | | Giao lưu | Nghệ nhân và kĩ thuật liên hệ cung đình–dân gian; ca Huế là ví dụ về giao thoa âm nhạc. |

Đọc ảnh biểu diễn và lập kế hoạch tìm hiểu

Quan sát ảnh phục dựng, biểu diễn Nhã nhạc ở SGK tr. 18. Ghi điều có thể thấy như đội hình, nhạc khí, trang phục; đối chiếu phần chữ để giải thích vai trò nghi lễ. Ảnh một buổi biểu diễn ngày nay chưa đủ cho biết chính xác mọi nghi thức trong một lễ của triều Nguyễn. Nếu có điều kiện nghe tư liệu do bảo tàng, đơn vị bảo tồn hoặc nhà trường giới thiệu, ghi tên tiết mục, nguồn, bối cảnh trình diễn và cảm nhận gắn với dấu hiệu nghe được. Không tự gọi mọi bài hát ở Huế là Nhã nhạc. Viết một đoạn phân tích điểm mới nghệ thuật Nguyễn: nêu luận điểm, chọn dẫn chứng từ mĩ thuật và âm nhạc, giải thích quan hệ kế thừa–tiếp thu–sáng tạo. Với lời kể hấp dẫn về một tác phẩm, chỉ dùng như sự kiện khi có nguồn kiểm chứng.

Bài luyện

Dẫn chứng nào trực tiếp thể hiện tổ chức âm nhạc cung đình?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Ca Huế được dùng trong bài để minh hoạ quan hệ nào?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Mốc UNESCO ghi danh năm 2003 cho biết điều gì?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Cách giải thích nào phù hợp về mĩ thuật cung đình–dân gian thời Nguyễn?
Chọn một đáp án

Ghi nhớ

Mĩ thuật và âm nhạc Nguyễn vừa kế thừa vừa tiếp thu, sáng tạo. Nhận ra quan hệ cung đình–dân gian; tìm hiểu Nhã nhạc qua chức năng và tổ chức trình diễn, phân biệt ghi danh với nguồn gốc.

Đang học