Vì sao hoà bình sau năm 1918 không bền vững?
Những thoả thuận sau Chiến tranh thế giới thứ nhất chưa giải quyết các mâu thuẫn quyền lợi. Để hiểu cuộc chiến 1939–1945, cần xem những nguyên nhân lâu dài cùng các yếu tố làm nguy cơ chiến tranh tăng lên trong thập kỉ 1930.
Mâu thuẫn, khủng hoảng và chính sách gây chiến
Theo SGK, nguyên nhân sâu xa tiếp tục gắn với sự phát triển không đều giữa các nước tư bản và mâu thuẫn về quyền lợi. Hệ thống Véc-xai–Oa-sinh-tơn phản ánh tương quan lực lượng sau cuộc chiến trước, nhưng khi tương quan thay đổi, những bất đồng tiếp tục gay gắt.
Khủng hoảng kinh tế 1929–1933 làm sâu sắc thêm mâu thuẫn kinh tế, chính trị và xã hội. Các thế lực phát xít, quân phiệt ở Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản đẩy mạnh tái vũ trang, liên kết và xâm lược. SGK xác định các thế lực phát xít là thủ phạm gây ra chiến tranh; không thể chỉ dùng một khó khăn kinh tế để bỏ qua chính sách, hành động gây chiến.
Chính sách thoả hiệp, nhượng bộ của các nước phương Tây tạo thêm điều kiện cho phe phát xít. Hiệp ước Muy-ních tháng 9-1938, với việc nhượng vùng Xuy-đét của Tiệp Khắc cho Đức, là dẫn chứng nổi bật. Sự nhượng bộ không ngăn được việc tiếp tục bành trướng. Sự bất lực của Hội Quốc liên cũng cho thấy hạn chế của cơ chế bảo vệ hoà bình đương thời.
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ngày 1-9-1939 và kéo dài đến năm 1945. Khi giải thích, cần kết nối nguyên nhân sâu xa, hoàn cảnh khủng hoảng, chính sách phát xít và điều kiện quốc tế; không đồng nhất tất cả với một ngày chiến tranh bắt đầu.
Tổn thất và chuyển biến quốc tế
Bảng 2 SGK tr. 24 thống kê 76 nước tham chiến, khoảng 60 triệu người chết và 90 triệu người bị tàn phế. Đặt cạnh các chỉ tiêu tương ứng ở Bảng 1 tr. 22, số liệu cho thấy phạm vi và tổn thất con người lớn hơn rất nhiều. Đây là số liệu theo bảng trong sách, không phải căn cứ để khẳng định mọi thống kê nghiên cứu đều dùng cùng một cách tính.
Thắng lợi chống phát xít tạo điều kiện cho những biến đổi lớn. Liên Xô có vai trò quyết định trong việc tiêu diệt phát xít Đức ở châu Âu; các lực lượng Đồng minh và phong trào kháng chiến của nhiều dân tộc cùng góp phần vào thắng lợi chung. Cần phân tích vai trò từng lực lượng trong phạm vi phù hợp.
Tương quan sức mạnh quốc tế thay đổi, trật tự hai cực I-an-ta hình thành với hai trung tâm Liên Xô và Mỹ. Chủ nghĩa xã hội phát triển ở nhiều nước; phong trào giải phóng dân tộc có điều kiện thuận lợi và các quốc gia độc lập ra đời. Những điều kiện quốc tế phải gắn với nỗ lực, đấu tranh của từng dân tộc, không coi độc lập tự động xuất hiện ở mọi nước cùng lúc.
Liên hợp quốc ra đời năm 1945, thể hiện nhu cầu xây dựng cơ chế hợp tác, ngăn ngừa chiến tranh và giải quyết tranh chấp hoà bình. Sự xuất hiện một tổ chức quốc tế không có nghĩa từ đó mọi xung đột đều chấm dứt.
| Tiêu chí so sánh | Sau cuộc chiến thứ nhất | Sau cuộc chiến thứ hai |
|---|---|---|
| Trật tự quốc tế | Hệ thống Véc-xai–Oa-sinh-tơn. | Trật tự hai cực I-an-ta. |
| Tổ chức hoà bình | Hội Quốc liên. | Liên hợp quốc. |
Hai tổ chức và hai hệ thống thuộc những bối cảnh khác nhau, không dùng tên gọi thay thế cho nhau.
So sánh bảng và giải thích dẫn chứng
Mở Bảng 2 SGK tr. 24, đối chiếu Bảng 1 tr. 22. Chọn hai chỉ tiêu cùng loại, ghi dữ kiện theo từng cuộc chiến rồi rút nhận xét. Giữ nguyên đơn vị và tên chỉ tiêu; không so số người chết ở một bảng với số người gia nhập quân đội ở bảng kia.
Dùng Tư liệu 2 tr. 22 và thông tin tr. 23 để lập sơ đồ nguyên nhân. Phân biệt nhận định về nguồn gốc sâu xa với dẫn chứng về chính sách gây chiến, nhượng bộ. Nêu vì sao mỗi dẫn chứng hỗ trợ một phần giải thích.
Kết thúc bằng một đoạn đánh giá: chiến tranh gây những tổn thất nào, làm thay đổi quan hệ quốc tế ra sao và đặt ra nhu cầu bảo vệ hoà bình như thế nào. Dữ kiện phải được dùng để lập luận, không chỉ chép lại bảng.
Bài luyện
Nhận định nào giải thích nguyên nhân chiến tranh đầy đủ hơn?
Ngày bắt đầu là mốc diễn biến, chưa giải thích nguồn gốc.
Không thể suy mọi nước hành động giống nhau.
Hành động gây chiến của các thế lực phát xít là yếu tố quan trọng.
Đúng. Các tầng nguyên nhân và điều kiện cần được liên hệ.
Lời giải
SGK phân tích nhiều yếu tố, từ phát triển không đều và mâu thuẫn quyền lợi đến khủng hoảng, phát xít hoá, xâm lược và sự nhượng bộ. Không thay toàn bộ bằng một nguyên nhân duy nhất.
Bài luyện
Hiệp ước Muy-ních năm 1938 được dùng làm dẫn chứng cho nội dung nào?
Liên hợp quốc ra đời trong bối cảnh năm 1945.
Đúng. Dẫn chứng liên quan trực tiếp chính sách nhượng bộ.
Đây là tổ chức thuộc bối cảnh sau chiến tranh.
Man-ta là sự kiện thuộc năm 1989.
Lời giải
Muy-ních thể hiện sự nhượng bộ của Anh, Pháp về vùng Xuy-đét. Cam kết đổi lấy nhượng bộ đã không ngăn được việc tiếp tục xâm lược.
Bài luyện
Cách so sánh hai bảng hậu quả nào hợp lí?
Đúng. Cùng chỉ tiêu và giữ đơn vị cho phép so sánh.
Đây là hai chỉ tiêu khác loại.
Khác đơn vị và nội dung nên không so trực tiếp.
Cần phạm vi, nguồn xác định để so sánh.
Lời giải
So sánh cần cùng tiêu chí và đơn vị tương ứng. Từ hai số liệu người chết có thể nêu nhận xét về mức độ tổn thất con người theo bảng SGK.
Bài luyện
Cặp thông tin nào đúng về biến đổi sau hai cuộc chiến tranh?
Hai hệ thống đã bị đảo bối cảnh.
Hai tổ chức ra đời ở những giai đoạn khác nhau.
Đúng. Cần ghép hệ thống với đúng bối cảnh sau chiến tranh.
Không phải mọi thoả thuận đều thuộc một hội nghị.
Lời giải
Hệ thống Véc-xai–Oa-sinh-tơn gắn sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Trật tự hai cực I-an-ta gắn sau Chiến tranh thế giới thứ hai; hai tổ chức hoà bình cũng có lịch sử riêng.
Ghi nhớ
Nguyên nhân chiến tranh cần giải thích qua nhiều tầng; chính sách phát xít có vai trò trực tiếp gây chiến. So sánh hậu quả cùng chỉ tiêu và phân biệt tổn thất với biến đổi trật tự quốc tế.
Đang học