btvn.vn

Pháp luật quốc tế, dân cư, biển và thương mại

Lưu trên thiết bị này
Pháp luật quốc tế, dân cư, biển và thương mại · Chọn bài khác

Cùng bắt đầu

Quan hệ giữa hai quốc gia và hợp đồng giữa hai doanh nghiệp ở hai nước đều có yếu tố quốc tế, nhưng chủ thể và căn cứ giải quyết khác nhau. Ta học từng nhóm để tránh dùng một nguyên tắc cho mọi tình huống.

Pháp luật quốc tế và những nguyên tắc cơ bản

Pháp luật quốc tế là hệ thống nguyên tắc, quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế, trước hết là các quốc gia. Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là những nguồn quan trọng. Luật quốc tế tạo cơ sở hợp tác, bảo vệ hòa bình, an ninh và giải quyết tranh chấp. Những nguyên tắc cơ bản thường học gồm: bình đẳng chủ quyền; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trái pháp luật quốc tế; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; không can thiệp công việc nội bộ; hợp tác; tôn trọng quyền dân tộc tự quyết; thiện chí thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Bình đẳng chủ quyền không phụ thuộc nước lớn hay nhỏ. Đàm phán, hòa giải, trọng tài hoặc cơ quan tài phán có thẩm quyền là những cách giải quyết hòa bình; phải xét căn cứ thẩm quyền của từng cơ chế, không mặc định mọi tranh chấp đều tự động thuộc một tòa án. Pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế tác động qua lại. Quốc gia tham gia hình thành, thực hiện cam kết quốc tế và tổ chức thực hiện trong nước. Không đơn giản hóa thành “luật quốc tế luôn thay mọi luật trong nước” hoặc “luật trong nước cho phép thì được bỏ cam kết”.

Dân cư, quốc tịch và bảo hộ

Quốc tịch thể hiện quan hệ pháp lí giữa cá nhân với một quốc gia. Dân cư trên lãnh thổ có thể gồm công dân nước đó, người nước ngoài và người không quốc tịch. Sống lâu ở một nước không tự động đồng nghĩa có quốc tịch nước ấy. Người nước ngoài phải tôn trọng pháp luật nước sở tại và được bảo vệ quyền lợi theo pháp luật, điều ước áp dụng. Chế độ đãi ngộ quốc gia cho phép họ hưởng những quyền tương ứng với công dân sở tại trong phạm vi quy định; chế độ tối huệ quốc xét đối xử so với người của nước thứ ba; chế độ đặc biệt có thể áp dụng theo điều ước, như một số quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao. Bảo hộ công dân là việc cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân ở nước ngoài. Bảo hộ không có nghĩa miễn cho công dân nghĩa vụ tuân thủ pháp luật sở tại. Việc xem xét cư trú chính trị cũng có căn cứ pháp luật, không phải mọi người đang bị truy tìm đều đương nhiên được chấp nhận.

Lãnh thổ và các vùng biển

Lãnh thổ quốc gia gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền. Biên giới quốc gia xác định giới hạn lãnh thổ; ranh giới ngoài vùng đặc quyền kinh tế không phải biên giới lãnh thổ trên biển. Đường cơ sở là mốc tính chiều rộng các vùng biển. Trong mô hình vùng biển thông thường, ta phân biệt: | Vùng | Phạm vi, quyền cơ bản | |---|---| | Nội thủy | Phía trong đường cơ sở; thuộc chủ quyền quốc gia | | Lãnh hải | Rộng 12 hải lí tính từ đường cơ sở; thuộc chủ quyền, có chế độ đi qua không gây hại theo luật quốc tế | | Tiếp giáp lãnh hải | Ngoài lãnh hải, ranh giới ngoài không quá 24 hải lí từ đường cơ sở; kiểm soát trong những lĩnh vực luật định như hải quan, nhập cư, y tế | | Đặc quyền kinh tế | Ngoài và tiếp liền lãnh hải, không vượt 200 hải lí từ đường cơ sở; có quyền chủ quyền về tài nguyên và quyền tài phán trong các lĩnh vực quy định | | Thềm lục địa | Đáy biển và lòng đất dưới đáy biển theo giới hạn luật quốc tế; không bao gồm cột nước phía trên | Không cộng 12 + 24 + 200: các mốc trên đều tính từ đường cơ sở. Vùng tiếp giáp có thể đồng thời nằm trong vùng đặc quyền kinh tế; chúng không phải các dải hoàn toàn tách nhau. Quyền chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế không giống chủ quyền đầy đủ ở lãnh hải. Trường hợp vùng biển chồng lấn cần xét phân định theo luật quốc tế.

Ví dụ: đọc khoảng cách trên biển

Giả sử đường cơ sở, các vùng biển được xác định phù hợp và khu vực không có chồng lấn. Điểm M cách đường cơ sở 18 hải lí. Có thể gọi M thuộc lãnh hải vì còn gần bờ không? Không. 18 lớn hơn 12 nên M ở ngoài lãnh hải. M nằm trong phạm vi 24 hải lí, thuộc vùng tiếp giáp lãnh hải, đồng thời nằm trong vùng đặc quyền kinh tế. Ta so sánh với mốc luật định, không dùng cảm giác “gần bờ”.

Ví dụ xem cách làm

Cũng theo giả định không có chồng lấn, điểm N cách đường cơ sở 80 hải lí. N có thuộc lãnh hải hoặc vùng tiếp giáp không? Quốc gia ven biển có quyền gì nổi bật tại đây?

Phân biệt hai nguyên tắc không phân biệt đối xử

Trong WTO, tối huệ quốc (MFN) xét đối xử giữa các đối tác thành viên: một ưu đãi thuộc phạm vi nghĩa vụ thường phải được dành cho các đối tác tương ứng khác. Đối xử quốc gia xét hàng nhập khẩu với hàng nội địa tương tự khi hàng đã vào thị trường, chẳng hạn thuế và quy định nội địa. Có ngoại lệ hợp pháp với điều kiện cụ thể, như một số thỏa thuận thương mại tự do. Thuế nhập khẩu không tự động vi phạm đối xử quốc gia; phải xét cam kết thuế quan. WTO còn đề cao mở cửa qua đàm phán, minh bạch, khả năng dự đoán, cạnh tranh công bằng và hỗ trợ phát triển.

Đọc hợp đồng từ nghĩa vụ đã cam kết

Hợp đồng thương mại quốc tế xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch có yếu tố quốc tế. Những nội dung thường cần kiểm tra là chủ thể, hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá, thanh toán, giao hàng, luật áp dụng và cách giải quyết tranh chấp. Các bên tự do, tự nguyện thỏa thuận trong giới hạn pháp luật, phải thiện chí, trung thực và thực hiện cam kết có hiệu lực. Nếu bên bán giao hàng kém hơn chất lượng đã thỏa thuận, cần đối chiếu hợp đồng với hàng thực tế, chứng từ, kết quả kiểm tra; không kết luận bên nào đúng chỉ từ quốc tịch hoặc quy mô doanh nghiệp. Ví dụ: hợp đồng yêu cầu 200 sản phẩm loại A, nhưng hồ sơ kiểm tra cho thấy một phần giao loại B. Vấn đề cần làm rõ là sự phù hợp chất lượng và nghĩa vụ giao hàng; sau đó mới xác định biện pháp xử lí theo hợp đồng, luật áp dụng và chứng cứ.

Ví dụ xem cách làm

Nhận xét: “WTO cấm mọi thuế nhập khẩu”; “Doanh nghiệp lớn hơn luôn được quyết định cách giải quyết tranh chấp hợp đồng”.

Những điều cần nhớ

Luật quốc tế đặt cơ sở cho quan hệ, hợp tác và giải quyết tranh chấp. Với biển, dùng đúng mốc và loại quyền. Với thương mại, xác định đang so sánh đối tác hay hàng nhập với hàng nội địa; với hợp đồng, bắt đầu từ nghĩa vụ và chứng cứ.

Đang học