La bàn định hướng nhờ từ trường Trái Đất
Xa nguồn từ khác, kim nam châm quay tự do vẫn có hướng ổn định. Trái Đất có từ trường nên tác dụng lên kim; có thể hình dung từ trường ấy gần giống trường của một nam châm lớn.
Trong mô hình đơn giản, vùng gần Bắc địa lí có tính chất của cực S, nên hướng đầu N của kim về phía Bắc. Tên Bắc từ thường dùng theo vị trí phía Bắc, không nên suy tên ấy giống hệt kí hiệu N của thanh nam châm. Các cực từ không trùng đúng với cực địa lí.
Đầu N của la bàn chỉ theo từ trường **tại nơi đặt la bàn**, không luôn chỉ chính xác Bắc địa lí hoặc một điểm cực duy nhất. Khi học xác định các hướng thông thường, dùng hướng Bắc từ làm mốc gần đúng; đo hướng địa lí chính xác cần xét độ lệch tại nơi đo. Bài này không yêu cầu tính độ lệch ấy.
Bài luyện
Ở nơi xa nam châm khác, nhận xét nào đúng về đầu N của la bàn?
Bắc từ và Bắc địa lí có thể lệch nhau.
Đúng: phân biệt hướng từ tại chỗ với Bắc địa lí.
La bàn theo từ trường tại chỗ, không nhắm một điểm duy nhất.
Vạch và chữ dùng để đọc, không gây định hướng kim.
Lời giải
Từ trường Trái Đất định hướng kim ở nơi đặt. Hướng Bắc từ có thể lệch Bắc địa lí; chữ N trên vỏ chỉ là mốc để đọc. Vì vậy không khẳng định la bàn luôn cho Bắc địa lí chính xác. Đáp án B.
Để kim ổn định rồi xoay vỏ

La bàn có kim nam châm trên trục quay và mặt chia hướng, thường bảo vệ bằng vỏ kính. Các hướng chính: **N: Bắc; E: Đông; S: Nam; W: Tây**. Các hướng giữa hai hướng chính gồm NE: Đông Bắc, SE: Đông Nam, SW: Tây Nam, NW: Tây Bắc.
Đặt la bàn **nằm ngang**, xa nam châm, vật sắt lớn và thiết bị có thể gây nhiễu. Chờ kim đứng yên. Xoay **vỏ hoặc mặt chia hướng** để vạch N trùng đầu N của kim; không dùng tay ép kim về vạch N. Sau đó đọc hướng của vật theo mặt chia đã chỉnh.
Góc phương hướng được đọc từ mốc N theo chiều kim đồng hồ: E là 90°, S là 180°, W là 270°. Những góc này lấy hướng Bắc từ làm mốc trong phép đọc đang xét.
Bài luyện
Kim đã đứng yên nhưng vạch N trên mặt chia chưa trùng đầu N. Cách chỉnh nào đúng?
Ép kim làm mất hướng tự ổn định.
Nam châm gần gây nhiễu, không giúp đọc hướng Trái Đất.
Đúng: chỉnh mốc đọc theo kim, không chỉnh kim theo mốc.
La bàn cần nằm ngang để kim xoay phù hợp.
Lời giải
Kim là bộ phận định hướng. Mặt chia cần được xoay để N trùng đầu N đã ổn định, rồi mới dùng các vạch để đọc vật. Không ép kim hay đưa nguồn từ tới gần. Đáp án C.
Đọc hướng lệch về phía Đông
La bàn đã chỉnh như hình; hướng tới một cột cờ có góc 20° tính từ N theo chiều kim đồng hồ. Cột cờ nằm **lệch 20° về phía Đông so với Bắc từ**, giữa N và NE; không phải đúng hướng Đông, vì Đông ứng với 90°.
Có thể kiểm bằng cách giữ la bàn nằm ngang, đọc lại sau khi kim ổn định. Nếu di chuyển tới gần lan can sắt hoặc nam châm, cần đưa ra xa và đo lại trước khi dùng kết quả.
Bài luyện
Mặt chia đã chỉnh; hướng tới vật là 270° từ N theo chiều kim đồng hồ. Vật ở hướng nào theo la bàn?
Đúng: đi qua Đông 90°, Nam 180° tới Tây 270°.
Đông tương ứng 90°, không phải 270°.
Nam tương ứng 180°.
Bắc tương ứng 0° hoặc 360°.
Lời giải
Các mốc đọc theo chiều kim đồng hồ là N 0°, E 90°, S 180°, W 270°. Vì vậy 270° là Tây theo hướng từ đã chỉnh. Đáp án A.
Thực hành với kim nổi đã được chuẩn bị
Giáo viên hướng dẫn dùng nam châm làm nhiễm từ một kim thép, rồi gắn kim vào miếng xốp nhỏ để nổi trên nước. Xốp không chạm thành chậu, kim có thể quay. Đặt xa vật sắt, chờ ổn định, thử xoay nhẹ rồi quan sát hướng trở lại.
So với la bàn đã biết cực để đánh dấu đầu N; không đoán đầu N chỉ vì kim nằm Bắc–Nam. Kim thường chưa được làm nhiễm từ không tự được coi là kim la bàn. Giáo viên chuẩn bị và thu kim nhọn; không ngậm kim, chọc vào tay hay để thất lạc.