Vì sao cần phân loại sinh vật?
Sách trong thư viện được xếp theo nhóm để dễ tìm. Với thế giới sống có rất nhiều loài, việc sắp xếp thành các nhóm cũng giúp nhận biết, tìm hiểu và nghiên cứu thuận tiện hơn.
Phân loại sinh học là sắp xếp sinh vật vào các nhóm dựa trên những đặc điểm phù hợp, chẳng hạn cấu tạo tế bào, tổ chức cơ thể và cách dinh dưỡng. Những sinh vật có nhiều đặc điểm chung được xếp vào cùng nhóm ở một bậc phân loại.
Không dùng riêng nơi sống để kết luận các sinh vật cùng một nhóm. Cá và rong biển cùng sống dưới nước nhưng khác nhau về cấu tạo và cách dinh dưỡng.
Các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ
Các bậc cơ bản được học theo thứ tự:
**Giới → ngành → lớp → bộ → họ → chi (giống) → loài.**
Một giới gồm các ngành; một ngành gồm các lớp; tiếp tục như vậy tới loài. Loài là bậc nhỏ nhất trong dãy cơ bản này. Các loài gần nhau có thể được xếp trong cùng một chi.
Không nhầm ‘lớp’ trong phân loại sinh vật với lớp học. Khi đề hỏi thứ tự từ nhỏ đến lớn, cần đảo ngược dãy trên.
Bài luyện
Dãy nào sắp xếp đúng các bậc phân loại cơ bản từ lớn đến nhỏ?
Lớp phải đứng trước bộ trong dãy từ lớn đến nhỏ.
Đây là thứ tự đúng; giới lớn nhất và loài nhỏ nhất trong dãy cơ bản.
Đây là thứ tự từ nhỏ đến lớn, ngược yêu cầu.
Ngành đứng trước lớp; bộ trước họ; chi trước loài.
Lời giải
Dãy cơ bản từ lớn đến nhỏ là giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài. Đáp án B.
Tên thông thường và tên khoa học
Tên thông thường có thể khác nhau giữa các vùng hoặc ngôn ngữ. Tên khoa học giúp gọi một loài thống nhất khi trao đổi và nghiên cứu.
Tên khoa học của loài thường gồm hai từ viết nghiêng: từ thứ nhất là tên chi, viết hoa chữ đầu; từ thứ hai viết thường. Ví dụ: *Apis cerana* là tên khoa học của ong mật châu Á. Cả hai từ tạo thành tên loài, không dùng riêng từ *cerana* làm tên khoa học đầy đủ.
Bài luyện
Cách viết nào đúng tên khoa học hai từ đã học của ong mật châu Á?
Tên chi phải viết hoa chữ đầu; từ thứ hai viết thường.
Từ thứ hai không viết hoa chữ đầu trong cách viết này.
Thiếu tên chi nên chưa phải tên khoa học đầy đủ.
Có đủ hai từ, viết nghiêng, tên chi viết hoa chữ đầu và từ thứ hai viết thường.
Lời giải
Tên gồm Apis và cerana; Apis viết hoa chữ đầu, cerana viết thường, cả tên được viết nghiêng. Đáp án D.
Năm giới trong hệ thống dùng ở bài học
Bài học sử dụng hệ thống năm giới dưới đây. Đây là hệ thống phân loại được trình bày trong SGK, không phải cách phân loại duy nhất trong sinh học.
| Giới | Đặc điểm tiêu biểu | Ví dụ |
|---|---|---|
| Khởi sinh | Cơ thể đơn bào, tế bào nhân sơ | Vi khuẩn |
| Nguyên sinh | Tế bào nhân thực, phần lớn cơ thể đơn bào | Trùng giày, trùng roi xanh |
| Nấm | Tế bào nhân thực; đơn bào hoặc đa bào; không có diệp lục | Nấm men, nấm rơm |
| Thực vật | Cơ thể đa bào, nhân thực; phần lớn có khả năng quang hợp | Cây lúa, cây xoài |
| Động vật | Cơ thể đa bào, nhân thực; lấy thức ăn từ sinh vật khác hoặc sản phẩm của chúng | Con mèo, con cá |
Khi phân loại, cần kết hợp các đặc điểm. Nấm mọc trên đất như nhiều cây nhưng không vì vậy mà thuộc giới Thực vật.
Ví dụ: vi khuẩn và trùng giày
Vi khuẩn và trùng giày đều có cơ thể đơn bào. Tuy nhiên, tế bào vi khuẩn là nhân sơ, còn tế bào trùng giày là nhân thực.
Trong hệ thống năm giới của bài, vi khuẩn thuộc giới Khởi sinh; trùng giày thuộc giới Nguyên sinh. Chỉ căn cứ ‘đơn bào’ là chưa đủ để xếp cả hai vào một giới.
Bài luyện
Trong hệ thống năm giới của bài học, cặp ví dụ nào được xếp đúng?
Vi khuẩn là đơn bào nhân sơ; nấm men là một đại diện giới Nấm.
Vi khuẩn không thuộc Động vật; nấm men không thuộc Thực vật.
Trùng giày thuộc Nguyên sinh; cây lúa thuộc Thực vật.
Cây lúa thuộc Thực vật; con mèo thuộc Động vật.
Lời giải
Vi khuẩn là ví dụ giới Khởi sinh. Nấm men dù đơn bào vẫn thuộc giới Nấm. Đáp án A.