Từ mức thay đổi trung bình đến đạo hàm
Khi $x$ đổi từ $x_0$ đến $x_0+h$, giá trị hàm đổi một lượng $f(x_0+h)-f(x_0)$. Tỉ số
$$\frac{f(x_0+h)-f(x_0)}h\quad(h\ne0)$$
cho biết mức thay đổi trung bình của giá trị hàm theo $x$ trên khoảng đang xét. Cho $h$ tiến về $0$: nếu tỉ số có giới hạn hữu hạn, giới hạn đó là **đạo hàm tại $x_0$**, kí hiệu $f'(x_0)$.
$$f'(x_0)=\lim_{h\to0}\frac{f(x_0+h)-f(x_0)}h.$$
Ta xét hàm xác định trong một khoảng chứa $x_0$. Có thể viết tương đương bằng $x\to x_0$, với mẫu $x-x_0$. Không thay $h=0$ vào phân thức ban đầu.
Tính đạo hàm của bình phương tại một điểm
Cho $f(x)=x^2$. Tính $f'(3)$ bằng định nghĩa.
Hiệu giá trị là $f(3+h)-f(3)=(3+h)^2-9=6h+h^2$. Với $h\ne0$, chia cho $h$ được $6+h$. Lấy giới hạn khi $h\to0$, ta có $f'(3)=6$.
Giá trị hàm là $f(3)=9$, còn đạo hàm là $6$: hai số trả lời hai câu hỏi khác nhau.
Tính đạo hàm tại một điểm bằng định nghĩa
Tính đạo hàm của $f(x)=x^2$ tại $x_0=2$ bằng định nghĩa.
Quy tắc đúng là $(x^2)'=2x$; theo định nghĩa giới hạn cũng thu được 4 tại $x=2$.
Phải chia cho $h$ trước khi lấy giới hạn; không thay 0 vào tử riêng.
Sau khi rút gọn còn phải lấy giới hạn khi $h\to0$.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Lời giải
$f(2+h)-f(2)=4h+h^2$. Chia cho $h\ne0$ được $4+h$, có giới hạn $4$. Vậy $f\prime(2)=4$.
Đạo hàm trên một khoảng
Làm tương tự tại $x_0$ bất kì: $[(x_0+h)^2-x_0^2]/h=2x_0+h\to2x_0$. Vì thế hàm $f(x)=x^2$ có đạo hàm $f'(x)=2x$ trên $\mathbb R$.
Với hàm hằng $f(x)=c$, hiệu luôn bằng $0$ nên đạo hàm bằng $0$. Với $f(x)=x$, tỉ số bằng $h/h=1$ nên đạo hàm bằng $1$. Một hàm có đạo hàm trên khoảng nếu có đạo hàm tại mọi điểm trong khoảng đó.
Hàm bậc nhất
Tính đạo hàm của $f(x)=3x-2$ bằng định nghĩa.
Đạo hàm của $3x$ là hệ số 3.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Đạo hàm của $ax+b$ bằng hệ số góc $a$, ở đây là 3.
Hiệu $f(x+h)-f(x)$ triệt tiêu các hạng chứa $x$ và hằng số, chỉ còn $3h$.
Lời giải
$[f(x+h)-f(x)]/h=3h/h=3$ với $h\ne0$. Giới hạn bằng $3$, nên $f\prime(x)=3$.
Liên tục chưa bảo đảm có đạo hàm
Nếu có đạo hàm tại một điểm thì hàm liên tục tại điểm đó. Chiều ngược lại không luôn đúng. Chẳng hạn $f(x)=|x|$ liên tục tại $0$, nhưng tỉ số $|h|/h$ bằng $1$ khi $h>0$ và $-1$ khi $h<0$. Hai giới hạn một phía khác nhau, nên không có đạo hàm tại $0$.
Giữ đúng thứ tự tính
Vì sao không đặt ngay h=0 trong công thức đạo hàm?
Dạng $0/0$ không xác định, không có giá trị bằng 0.
Phương án dùng đúng dữ kiện và lập luận.
Giới hạn xét cả thương; phân thức ban đầu chưa xác định tại $h=0$.
Đạo hàm là giới hạn khi $h$ tiến tới 0, không liên quan điều kiện $h=1$.
Lời giải
Phân thức ban đầu có mẫu h và chưa xác định tại h=0. Ta rút gọn với h khác 0 rồi lấy giới hạn; giới hạn không phải phép chia 0 cho 0.
Điều cần nhớ
Tính hiệu hai giá trị → chia cho số gia khác 0 → lấy giới hạn hữu hạn. Phân biệt đạo hàm tại một điểm với giá trị hàm tại điểm ấy.
Đang học