btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Nuôi trồng thủy sản: quy mô, phân bố và chất lượng

Lưu trên thiết bị này
Phát triển thủy sản · Chọn bài khác

Nuôi trồng tăng quy mô và tỉ trọng

Nuôi trồng tăng quy mô và tỉ trọng
Nuôi trồng tăng quy mô và tỉ trọng
Mở hình lớn
Sản lượng nuôi trồng từ 2732,3 nghìn tấn năm 2010 lên 5817,6 nghìn tấn năm 2024, tăng qua cả bốn mốc trong bảng 13.2. Tỉ trọng trong tổng sản lượng 2024 khoảng 60,2%. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nuôi trồng lớn nhất, Đồng bằng sông Hồng thứ hai theo SGK. Nơi nuôi cần phù hợp loại nước, đối tượng và điều kiện tổ chức.

Đổi mới phương thức và liên kết giá trị

Trang trại công nghệ cao, nuôi hữu cơ và đa dạng đối tượng được phát triển. Kĩ thuật, giống, thức ăn, nước và kiểm soát dịch bệnh giúp chủ động sản xuất, đáp ứng yêu cầu chất lượng. Chế biến, an toàn thực phẩm, truy xuất và thị trường hỗ trợ tiêu thụ, xuất khẩu. Không đồng nhất tăng sản lượng với việc mọi cơ sở đều đạt cùng tiêu chuẩn.

Chủ động sản xuất vẫn cần giới hạn sinh thái

Nuôi trồng góp phần chủ động nguồn cung và giảm phụ thuộc vào khai thác tự nhiên. Tuy vậy, vẫn cần quản lí chất lượng nước, mật độ, chất thải và dịch bệnh theo điều kiện cụ thể. Nguồn nước suy thoái và biến đổi khí hậu có thể làm tăng rủi ro. Không kết luận mọi hình thức nuôi đều không gây tác động môi trường hoặc luôn có lợi nhuận.

Bài luyện

Vùng nuôi trồng thủy sản lớn nhất theo SGK là gì?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Nhận xét nào đúng trong bảng 2010/2015/2020/2024?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Vì sao nuôi trồng vẫn cần quản lí môi trường?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Liên kết nào hỗ trợ nâng giá trị thủy sản nuôi?
Chọn một đáp án

Đang học