btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Giao thông vận tải biển và liên kết vùng

Lưu trên thiết bị này
Phát triển kinh tế–xã hội ở Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên · Chọn bài khác

Hệ thống cảng và bến cảng

Hệ thống cảng và bến cảng
Hệ thống cảng và bến cảng
Mở hình lớn
Vùng có vũng vịnh và các cảng, bến nước sâu. SGK nêu các cảng biển loạiI là Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa; bến nước sâu như Kỳ Hà ở Đà Nẵng, Dung Quất ở Quảng Ngãi, Nhơn Hội ở Gia Lai, Vân Phong ở Khánh Hòa. Bình Định ở đây là tên cảng biển, không dùng làm tên một tỉnh riêng trong danh sách địa phương hiện hành của vùng. Cảng và bến là hai cấp đối tượng cần phân biệt khi đọc và đếm.

Kết nối và vai trò

Vùng nằm trên các tuyến biển bắc–nam và tuyến hàng hải quốc tế qua Biển Đông, thuận lợi kết nối Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á và các thị trường khác. Hàng hóa qua cảng ngày càng tăng theo sách, hỗ trợ sản xuất và xuất nhập khẩu. Cảng cần nối với đường bộ, kho bãi, dịch vụ và vùng sản xuất. Vai trò của đầu mối không chỉ ở điều kiện tự nhiên mà còn ở năng lực phục vụ và liên kết.

Phân biệt định hướng với hiện trạng

SGK nêu Đà Nẵng hướng tới vai trò cảng cửa ngõ quốc tế và Vân Phong được quy hoạch thành bến cảng trung chuyển quốc tế lớn. Đây là thông tin về hướng phát triển, không tự coi mọi mục tiêu đã hoàn tất. Phát triển giao thông biển cần gắn các ngành kinh tế biển, khai thác hiệu quả bến nước sâu, ứng dụng công nghệ và bảo vệ môi trường. Mở hình 28.2 xác định cảng và một kết nối với nội địa, rồi giải thích.

Bài luyện

Bình Định trong danh sách cảng của SGK cần hiểu thế nào?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Cặp bến và địa phương nào đúng theo SGK?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Vì sao cảng cần kết nối nội địa?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Thông tin “được quy hoạch thành bến trung chuyển quốc tế” phản ánh gì?
Chọn một đáp án

Đang học