btvn.vn
Tìm kiếm Đăng nhập

Lượng mưa và độ ẩm của khí hậu Việt Nam

Lưu trên thiết bị này
Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa · Chọn bài khác

Mưa và độ ẩm không phải một đại lượng

Mưa và độ ẩm không phải một đại lượng
Mưa và độ ẩm không phải một đại lượng
Mở hình lớn
SGK nêu lượng mưa năm phổ biến 1500–2000 mm, độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 80–85%. Vùng núi và sườn đón gió có thể mưa 3500–4000 mm, trong khi có trạm dưới 1500 mm. Lượng mưa tính bằngmm cho biết lượng nước mưa; độ ẩm tương đối biểu thị bằng% cho biết mức ẩm của không khí. Độ ẩm 83% không có nghĩa 83% số ngày trong năm có mưa.

Nguồn ẩm và điều kiện gây mưa

Biển Đông cung cấp nguồn ẩm; các khối khí và gió vận chuyển ẩm. Địa hình đón gió tạo điều kiện nâng không khí, làm lượng mưa khác nhau theo nơi. Do đó, nhận xét phổ biến 1500–2000 mm không phải quy định mọi trạm đều nằm trong khoảng ấy. Bảng 2.2 có Lạng Sơn 1318 mm, Huế 2936 mm; cả hai đều là số của trạm trong nguồn được dẫn.

Giữ phạm vi khi nhận xét

SGK mô tả cân bằng ẩm dương cùng tính ẩm chung của thiên nhiên. Điều này không đồng nghĩa mọi tháng và mọi nơi đều đủ nước cho mọi nhu cầu. Sự phân mùa, phân bố mưa, nguồn trữ và sử dụng nước vẫn tạo khác biệt. Khi đọc một bảng, cần nói rõ tổng mưa năm hay mưa tháng, độ ẩm trung bình năm hay giá trị tức thời; một số trung bình không mô tả tất cả thời điểm.

Bài luyện

Đơn vị nào dùng cho tổng lượng mưa năm trong bài?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Độ ẩm tương đối trung bình năm 83% nên hiểu thế nào?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Bảng ghi Huế 2936 mm. Nhận xét nào hợp lí?
Chọn một đáp án

Bài luyện

Cách hiểu nào phù hợp với tính ẩm chung của khí hậu?
Chọn một đáp án

Đang học