Đa số cơ sở còn nhỏ
SGK cho biết hộ gia đình là hình thức rất phổ biến, khoảng 96% theo phạm vi thống kê của đoạn sách; hơn 70% cơ sở sản xuất xen trong khu dân cư. Nhiều khâu còn làm thủ công. Những điều này giúp giải thích vì sao làng nghề tạo việc làm linh hoạt nhưng khó đầu tư đồng bộ máy móc, xử lí chất thải và bảo đảm an toàn khi không gian chật.
Không suy 96% là tỉ lệ làng nghề được công nhận, cũng không áp dụng máy móc cho một địa phương chưa khảo sát.
Cần đọc kĩ phạm vi số
SGK tr. 48 nêu khoảng 586 nghìn cơ sở và doanh thu khoảng 377 nghìn tỉ đồng trong năm 2024 theo đoạn mô tả làng nghề. Hai số là quy mô toàn bộ theo nguồn sách, không là số của từng làng hoặc từng vùng. Nguồn ở các trang khác dùng các phạm vi lao động chưa giải thích đủ để so trực tiếp; bài này không dùng chúng để tính năng suất hay thu nhập bình quân.
Doanh thu cũng không phải lợi nhuận và không tự chứng minh bền vững.
Ba câu hỏi khi đánh giá
Hỏi: cơ sở hoạt động theo hình thức nào; nơi sản xuất nằm ở đâu so với khu dân cư; chất thải được thu gom và xử lí ra sao? Thêm bằng chứng về sản phẩm, thị trường và truyền nghề để tránh chỉ nhìn một mặt. Nên dùng nguồn của chính địa phương nếu cần nhận xét hiện trạng hiện nay.
Bài luyện
Con số khoảng 96% trong đoạn SGK nói chủ yếu về gì?
Sai chỉ tiêu.
Không phải.
Hình 3.3 là 38,7%.
Đúng. Không đổi đơn vị hoặc mẫu số của số liệu.
Lời giải
Không đổi đơn vị hoặc mẫu số của số liệu.
Bài luyện
Vì sao sản xuất xen khu dân cư cần chú ý?
Không thể kết luận mọi nơi.
Không liên quan.
Đúng. Đánh giá điều kiện không gian cụ thể.
Sai.
Lời giải
Đánh giá điều kiện không gian cụ thể.
Bài luyện
Doanh thu khoảng 377 nghìn tỉ đồng năm 2024 có thể chia ngay để suy thu nhập từng hộ không?
Không có căn cứ.
Đúng. Không biến tổng doanh thu thành mức sống cá nhân.
Sai bản chất.
Thiếu mẫu số.
Lời giải
Không biến tổng doanh thu thành mức sống cá nhân.
Đang học